- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Thanh Trúc cùng đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm g Khoản 2 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 334/2022/HS-ST Ngày: 10- 11- 2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Anh Thƣ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ
2. Bà Vƣơng Thị Hồng Thanh
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, là Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Ngoan - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 11 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố Dĩ An, công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 302/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 328/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Ngọc S, sinh năm 2001, tại tỉnh C; nơi ĐKHKTT: Ấp B, xã V, huyện Ng, tỉnh C; giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1952; Bị cáo có 02 anh em ruột (lớn nhất 1992, nhỏ sinh năm 1995); Tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 08/8/2022. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
2. Trần Thị Thanh Tr, sinh năm 1997, tại tỉnh Bình Dƣơng; ĐKHKTT: Khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B; giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Trần Hồng Đ, sinh năm 1973 (đã mất) và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1969; Bị cáo có chồng Huỳnh Tấn V, sinh năm 1992. Bị cáo chƣa có con; Tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 08/8/2022. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người chứng kiến: Nguyễn Văn Th, sinh năm 1954; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 21 giờ 30 ngày 07/8/2022, Nguyễn Ngọc S và Trần Thị Thanh Tr sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13 màu xanh, sim số 0528046225 lên mạng xã hội liên hệ với ngƣời thanh niên tên Ch hỏi mua 700.000đ ma tuý đá. Sau đó S và Tr hẹn Ch tới phòng 110 nhà nghỉ An San, khu phố Nhị Đồng 2, phƣờng Dĩ An để giao dịch mua ma tuý. Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 08/8/2022 Ch đến, Tr bỏ 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng) trên bàn để Ch tự lấy, Ch lấy ma tuý từ hộp mang theo bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma tuý mang theo để cả ba cùng sử dụng, phần còn dƣ trong bộ dụng cụ Ch để vào hộp giấy màu trắng cạnh giƣờng. Sau đó Ch gửi S, Tr giữ hộ 02 hộp giấy màu đen và các dụng cụ khác. Đến khoảng 23 giờ 00 phút ngày 08/8/2022, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma tuý phối hợp với công an phƣờng Dĩ An kiểm tra hành chính, Nguyễn Ngọc S và Trần Thị Thanh Tr mở cửa sổ để giục 02 hộp màu đen chứa ma tuý ra ngoài thì bị lực lƣợng công an kiểm tra phát hiện lập biên bản thu giữ vật chứng.
Vật chứng thu giữ: 01 gói nylon miệng hàn kín bên trong chứa 02 gói ni lông hàn kín chứa tinh thể màu trắng; 01 gói nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 nỏ thủy tinh chứa tinh thể màu trắng; 01 hộp giấy màu trắng, 02 hộp giấy màu đen; 01 cây kéo nhỏ; 01 ống hút nhựa; 01 cân tiểu ly, 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A13 màu xanh.
Theo Kết luận giám định số 387/MT-PC09 ngày 16/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, kết luận: Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định đều là ma túy loại Methamphetamine, có khối lƣợng: 0,1083gam (M1), 0,3756gam (M2-1), 0,2123gam (M2-2), 4,3304gam (M3).
Ngày 18/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Ngọc S và Trần Thị Thanh Tr.
Đối với đối tƣợng tên Chung bán ma túy cho S và Tr hiện chƣa rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đang xác minh làm rõ xử lý sau.
Theo bản cáo trạng số 335/CT- VKS- DA ngày 10/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc S và Trần Thị Thanh Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm g Khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong phần tranh luận Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Ngọc S và Trần Thị Thanh Tr về tội danh, điều luật nhƣ nội dung Cáo trạng, đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm g Khoản 2 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S mức hình phạt từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 09 tháng tù; xử phạt bị cáo Trần Thị Thanh Tr mức hình phạt từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 09 tháng tù; Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy lƣợng ma tuý còn lại sau giám định và dụng cụ kèm theo (theo biên bản giao nhận đồ vật ngày 10/10/2022); tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13 màu xanh.
Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Ngọc S và Trần Thị Thanh Tr không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về nội dung:
Khoảng 23 giờ 00 ngày 08/8/2022, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma tuý phối hợp với công an phƣờng Dĩ An kiểm tra hành chính phát hiện Nguyễn Ngọc S và Trần Thị Thanh Tr đang ở trong phòng 110 nhà nghỉ An San, khu phố Nhị Đồng 2, phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Cạnh giƣờng có 01 hộp giấy màu trắng, 02 hộp màu đen chứa ma tuý và các dụng cụ khác. Theo kết luận giám định số ma tuý thu giữ của bị cáo S và Tr là 0,1083gam (M1), 0,3756gam (M2-1), 0,2123gam (M2-2), 4,3304gam (M3) loại Methamphetamine. Tổng cộng 5,0266 gam Methamphetamine.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc S và Trần Thị Thanh Tr đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đƣợc quy định tại Điểm g Khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi tàng trữ ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và xâm phạm đến chế độ quản lý các chất gây nghiện của nhà nƣớc. Các bị cáo biết Methamphetamine là chất gây nghiện độc hại do nhà nƣớc độc quyền và thống nhất quản lý, việc sử dụng chúng không những hủy hoại sức khỏe của bản thân, mà còn là điều kiện phát sinh các tệ nạn xã hội và nhiều tội phạm khác nhƣng các bị cáo vẫn tàng trữ, sử dụng. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng nhau bàn bạc thực hiện nên mức hình phạt của hai bị cáo ngang nhau.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản nhƣ trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Về hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Đối với bì thƣ ký hiệu M1 bên trong có 01 nỏ thuỷ tinh chứa ma tuý loại Methamphetamine có khối lƣợng còn lại sau giám định là 0,0427gam; bì thƣ ký hiệu M2 bên trong chứa ma tuý loại Methamphetamine có khối lƣợng còn lại sau giám định là 0,2778gam (M2-1) và 0,1529gam (M2-2); bì thƣ ký hiệu M3 bên trong chứa ma tuý loại Methamphetamine có khối lƣợng còn lại sau giám định là 3,9543gam là mẫu vật hoàn lại sau giám định cần tuyên tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 hộp giấy màu trắng, 02 hộp giấy màu đen, 01 cây kéo nhỏ, 01 ống hút nhựa, 01 cân tiểu ly là vật chứng trong vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 điện thoại di dộng hiệu Samsung Galaxy A13 màu xanh bị cáo sử dụng liên hệ mua ma tuý nên cần tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm g Khoản 2 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Nghị 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc S và Trần Thị Thanh Tr phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 08/8/2022.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Thanh Tr 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 08/8/2022.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 03 bì thƣ đƣợc niêm phong dán kín, bên ngoài đều đƣợc ký hiệu 387/PC09 gồm: Bì thƣ ký hiệu M1 bên trong có 01 nỏ thuỷ tinh chứa ma tuý loại Methamphetamine có khối lƣợng còn lại sau giám định là 0,0427gam; bì thƣ ký hiệu M2 bên trong chứa ma tuý loại Methamphetamine có khối lƣợng còn lại sau giám định là 0,2778gam (M2-1) và 0,1529gam (M2-2); bì thƣ ký hiệu M3 bên trong chứa ma tuý loại Methamphetamine có khối lƣợng còn lại sau giám định là 3,9543gam; 01 hộp giấy màu trắng, 02 hộp giấy màu đen, 01 cây kéo nhỏ, 01 ống hút nhựa và 01 cân tiểu ly.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc 01 điện thoại di dộng hiệu Samsung Galaxy A13 màu xanh.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/10/2022 giữa Công an thành phố Dĩ An và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).
3. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Ngọc S và Trần Thị Thanh Tr, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Dĩ An; - Chi cục THADS TP.Dĩ An; - Công an TP.Dĩ An; - Bị cáo; - Ngƣời tham gia tố tung khác; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Anh Thư |