vanban.org

Bản án 333/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 18/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Xử phạt bị cáo: Nguyễn Đức D 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 10 năm 2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số 333/2024/HS-ST bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luậ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN B
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 333/2024/HS-ST
Ngày: 18/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Quang H

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Anh V

2. Ông Nguyễn Minh T

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thu H - Thư ký Tòa án.

- Đại diện VKSND quận B tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị H - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận B, Thành phố H, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 336/2024/HSST ngày 26 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 345/2024/HS-QĐ, ngày 26/11/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đức D - SN: 22.8. 1984 - Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: số 102A- Q4, Tập thể T, phường T, quận H, thành phố H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Chức vụ, đảng phái: Không; Họ tên bố: Nguyễn Đức C - SN 1937 (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị B - SN 1947 Hưu trí; Họ tên vợ: Lê Thị Hương G- SN 1980; Có 02 con: Nguyễn Gia H – SN 2007; Nguyễn Gia L – SN 2015. Theo danh chỉ bản số: 574, ngày 16/10/2024 tại Công án quận B, TP H thì bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 07/10/2024, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/10/2024 đến nay tại nhà tạm giữ - Công an quận B, thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11h30’ ngày 07/10/2024, Tổ công tác ĐTTP về ma túy – Công an quận B phối hợp với công an phường P phát hiện bắt quả tang Nguyễn Đức D có hành vi bán trái phép chất ma túy tại ngõ 304 đường H, phường P, quận B, thành phố H.

*Vật chứng thu giữ của Nguyễn Đức D:

- 06 túi nilon màu đỏ kích thước khoảng (0,5 x1) cm bên trong chứa chất bột màu trắng;

- 02 túi nilon màu trắng kích thước (3x7) cm bên trong chứa chất bột màu trắng;

- 01 vỏ bao thuốc lá “Thăng Long” màu vàng

- 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Pro màu vàng, đã qua sử dụng, lắp số thuê bao 0945.438.484.

* Ngày 07/10/2024, Công an quận B ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 1612 khám nơi ở của Nguyễn Đức D tại số 102A –Q4 tập thể T, phường T, quận H, thành phố H, kết quả: không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

* Kết luận giám định ma túy số 7340/KL – KTHS ngày 16/10/2024 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H kết luận:

- Chất bột màu trắng bên trong 06 gói nilon màu đỏ và 02 gói nilon màu trắng đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 1,955 gam.

Quá trình điều tra xác định:

Khoảng 9h ngày 07/10/2024, khi Nguyễn Đức D đang ở nhà thì nhận được tin nhắn từ một người bạn xã hội, sử dụng tài khoản zalo “B A” (không xác định nhân thân, lai lịch) hỏi mua của D 4.000.000đ tiền ma túy Heroine và hẹn giao ma túy đến khu vực Khu đô thị G, phường P, quận B, thành phố H. D đồng ý bán và bắt xe ôm từ nhà đến khu vực nghĩa trang H gần chợ đầu mối hoa quả thuộc phố T, phường H, quận H, thành phố H tìm gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi (không xác định nhân thân) hỏi mua 3.000.000đ tiền ma túy Heroine. Người đàn ông đưa D 06 gói nilon màu đỏ chứa chất bột màu trắng; 02 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy heroine. Sau khi mua được ma túy, D cất giấu vào bên trong túi quần bên trái rồi tiếp tục bắt xe ôm đến khu đô thị G đến bán ma túy cho người mua sử dụng zalo “B A” nhưng chưa kịp giao cho khách mua thì bị công an kiểm tra nên D tự nguyện giao nộp cho Công an số ma túy trên. Sau dó tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ, niêm phong tang vật và dẫn giải D về trụ sở Công an quận B để tiếp tục làm rõ.

* Hồi 15h00’ ngày 07/10/2024, Công an quận B phối hợp với Công an phường P rà soát người mua ma túy của Nguyễn Đức D tại khu vực ngõ 304 đường H, phường P, quận B, thành phố H không phát hiện người mua ma túy tên zalo “B A”.

* Hồi 16h10’ ngày 07/10/2024, Công an quận B dẫn giải Nguyễn Đức D chỉ nơi mua ma túy tại trước khu nghĩa trang H gần chợ đầu mối hoa quả thuộc phố T, phường H, quận H, thành phố H. Qua rà soát không phát hiện người bán ma túy cho D, không có người chứng kiến và camera xung quanh.

* Test ma túy đối với Nguyễn Đức D: kết quả âm tính (không sử dụng ma túy).

Tại cơ quan CSĐT - Công an quận B, Nguyễn Đức D khai nhận hành vi của mình như trên và khai đây là lần đầu tiên đi bán ma túy thì bị bắt giữ.

Số tang vật là ma túy , điện thoại thu giữ của Nguyễn Đức D liên quan đến hành vi phạm tội nên tiếp tục tạm giữ xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Đức D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng số: 331/CT-VKSBTL, ngày 25 tháng 11 năm 2024 của VKSND quận B, thành phố H đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đức D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1,2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đức D mức án từ 36 đến 42 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm bên trong có chứa ma túy đã giám định, bên ngoài dán kín các mép có chữ ký giáp lai của cán bộ niêm phong Nguyễn Thiện T, giám định viên Nguyễn Văn H, đương sự Nguyễn Đức D và hình dấu cơ quan công an và 01 vỏ bao thuốc lá “Thăng Long” màu vàng.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Pro màu vàng, lắp số thuê bao 0945.438.484 (đã qua sử dụng).

- Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình, đã khai báo thành khẩn, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của bị cáo và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận B, TP. H; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, TP. H trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với các quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và vật chứng được thu giữ cùng các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 07/10/2024, tại khu vực ngõ 304 đường H, quận B, thành phố H, bị cáo Nguyễn Đức D có hành vi bán trái phép 06 túi nilon màu đỏ và 02 túi nilon màu trắng bên trong có chứa tinh thể ma túy Heroine, tổng khối lượng 1,955 gam cho đối tượng sử dụng tài khoản zalo “B A” thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng. Tại cơ quan điều tra bị cáo D khai số ma túy trên bị cáo mua của một người đàn ông khoảng 50 tuổi (không xác định nhân thân) tại khu vực nghĩa trang H gần chợ đầu mối hoa quả thuộc phố T, phường H, quận H, thành phố H với giá 3.000.000 đồng, sau khi mua được ma túy bị cáo bắt xe ôm đến khu vực Khu đô thị G, phường P, quận B, TP H bán cho một người bạn xã hội, sử dụng tài khoản zalo “B A” với giá 4.000.000 đồng. Vì vậy bản cáo trạng số: 331 ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận B đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đức D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội; xâm phạm sức khoẻ của con người; hành vi của bị cáo còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó cần phải ra một bản án phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự và lần đầu bị đưa ra xét xử; bị cáo có bố là Thương binh và được tặng thưởng nhiều huân huy chương. Vì vậy Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung là hình phạt tiền: Xét bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo D và đối tượng mua ma túy của bị cáo D, cơ quan Điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về Nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và lần đầu bị đưa ra xét xử.

Về vật chứng:

- Đối với 01 (một) phong bì niêm bên trong có chứa ma túy đã giám định, bên ngoài dán kín các mép có chữ ký giáp lai của cán bộ niêm phong Nguyễn Thiện T, giám định viên Nguyễn Văn H, bị cáo Nguyễn Đức D và hình dấu cơ quan công an và 01 vỏ bao thuốc lá “Thăng Long” màu vàng là vật mà nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng. Nay cho tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Pro màu vàng, lắp số thuê bao 0945.438.484 (đã qua sử dụng), bị cáo đã sử dụng để liên lạc trong việc mua, bán ma túy. Xét đây là vật chứng của vụ án. Nay cho tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng Khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1,2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Áp dụng Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Áp dụng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

1. Xử phạt bị cáo: Nguyễn Đức D 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 10 năm 2024.

2. Về vật chứng của vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm bên trong có chứa ma túy đã giám định, bên ngoài dán kín các mép có chữ ký giáp lai của cán bộ niêm phong Nguyễn Thiện T, giám định viên Nguyễn Văn H, đương sự Nguyễn Đức D và hình dấu cơ quan công an và 01 vỏ bao thuốc lá “Thăng Long” màu vàng.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Pro màu vàng, lắp số thuê bao 0945.438.484 (đã qua sử dụng).

(Vật chứng trên được xử lý theo biên bản giao, nhận vật chứng số: 65/25, ngày 27 tháng 11 năm 2024 giữa Cơ quan CSĐT công an quận B với Chi cục thi hành án dân sự quận B).

3. Về án phí và quyền kháng cáo:

- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ