- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị D - Hồ N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị D.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 332/2026/HNGĐ - ST. Ngày: 07 - 9 - 2026. V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Nhung. Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Huy Tùng
Ông Đỗ Văn Quân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Huy – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lý Út Hoài – Kiểm sát viên. Ngày 07 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 480/2026/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 725/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị D, sinh năm 1996; địa chỉ: Ấp C, xã L, thành
phố Đ. Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục C về TTXH cấp ngày 11/8/2022 (vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Hồ N, sinh năm 1994; địa chỉ: Ấp T, xã L, thành phố Cần
Thơ. Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục C về TTXH cấp ngày 18/10/2022 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện lập ngày 25/5/2026 nguyên đơn bà Huỳnh Thị D trình
bày: Nguyên vào năm 2014, bà Huỳnh Thị D và ông Hồ N tự nguyện kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (Nay là xã L, thành phố Đ) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 54/2014, ngày 19/4/2014. Sau khi kết hôn bà D và ông N chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống từ đó đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Mặc dù, bà D và ông N được gia đình hai bên động viên hàn gắn nhưng không hàn gắn được. Trong thời gian chung sống bà D và ông N có 01 người con chung tên Hồ Anh P, sinh ngày 21/10/2017; hiện nay cháu P sống chung với bà D. Về tài sản chung bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: Không có.
Nay bà Huỳnh Thị D yêu cầu được ly hôn với ông Hồ N; yêu cầu trực tiếp
nuôi dưỡng con chung là Hồ Anh P đến khi thành niên và không yêu cầu ông N cấp dưỡng cho con chung; về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn ông Hồ N: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt
hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông N nhưng ông N không có ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông N để tham gia tố tụng tại phiên hòa giải nhưng ông N vẫn vắng mặt nên Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được và đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông N biết. Bị đơn ông Hồ N đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
- Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ
tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, đối với bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa xét thấy tình trạng của vợ chồng bà Huỳnh Thị D và ông Hồ N đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Thị D; giao cháu Hồ Anh P cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên; về cấp dưỡng cho con chung: Bà D không yêu cầu nên không đặt ra xem xét; tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Nguyên đơn bà Huỳnh Thị D và bị đơn ông Hồ N đã được Tòa án triệu
tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bà D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông N vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà D và ông N.
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, bà Huỳnh Thị D và ông Hồ N tự nguyện
kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (Nay là xã L, thành phố Đ) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 054/2014 ngày 19/4/2014 nên quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông N là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, bà D có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Xét lý do yêu cầu ly hôn của bà D, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà D cho rằng nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, từ đó đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, bà D và ông N nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không hàn gắn được. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để động viên vợ chồng bà D và ông N đoàn tụ với nhau nhưng ông N vẫn vắng mặt và bà D vẫn kiên quyết ly hôn với ông N vì tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy, tình trạng của vợ chồng bà D và ông N đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc bà Huỳnh Thị D xin ly hôn với ông Hồ N là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị D được ly hôn với ông Hồ Nhí .
Về con chung: Bà Huỳnh Thị D xác định trong thời gian chung sống, bà
D và ông Hồ N có 01 người con chung tên Hồ Anh P, sinh ngày 21/10/2017. Bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu P đến khi thành niên. Xét thấy, cháu P do bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án khi ghi nhận ý kiến thì cháu P có nguyện vọng sống chung với bà D. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu P, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải giao cháu P cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Ngoài ra, căn cứ vào khản 3 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho ông N mà không ai được cản trở.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà Huỳnh Thị D không yêu cầu cấp dưỡng
cho con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Bà Huỳnh Thị D xác định không yêu cầu Tòa án giải
quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Bà Huỳnh Thị D xác định trong thời gian chung sống bà D
và ông Hồ N không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. [7] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bà Huỳnh Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Hồ N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát
nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị D.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị D được ly hôn với ông Hồ Nhí .
1.2. Về con chung: Giao cháu Hồ Anh P, sinh ngày 21/10/2017 cho bà
Huỳnh Thị D trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên. Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho ông Hồ N mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng cho con chung: Bà Huỳnh Thị D không yêu cầu nên Hội đồng
xét xử không đặt ra xem xét.
1.3. Về tài sản chung: Bà Huỳnh Thị D xác định không yêu cầu Tòa án giải
quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
1.4. Về nợ chung: Bà Huỳnh Thị D xác định trong thời gian chung sống bà
D và ông Hồ N không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị D phải chịu 300.000 đồng (ba
trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011843 ngày 11/6/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ; như vậy, bà Huỳnh Thị D đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm. Ông Hồ N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. 3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Cần Thơ (P THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA GĐKT,TTr&THA); - Các bên đương sự; - VKSND khu vực 9 – Cần Thơ; - Phòng THADS khu vực 9 – Cần Thơ; - UBND xã La Ngà, thành phố Đồng Nai; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Lê Thị Cẩm Nhung |