vanban.org

Bản án 332/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 29/08/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh T; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 88/2022/HS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện N. [2] Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 01/2022… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Tuấn - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 332/2022/HS-PT
Ngày: 29 – 8 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Sơn.

Các Thẩm phán:

Bà Lê Hồng Hương.

Bà Lê Thị Ký.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn T Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Sương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 222/2022/TLPT-HS ngày 07 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Thanh T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 88/2022/HS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện N.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thanh T (tên gọi khác: không có), sinh năm 1985 tại tỉnh Đồng Nai;

Nơi cư trú: ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai;

Nghề nghiệp: Bảo vệ; Trình độ học vấn (văn hóa): Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1960 và bà Lý Thị D, sinh năm 1957; bị cáo có vợ tên Phạm Thị Bích N, sinh năm 1991 (Đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo tại ngoại (Có mặt).

- Ngoài ra còn có người đại diện hợp pháp của người bị hại không có kháng cáo và không bị kháng nghị; Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 07 giờ ngày 21/12/2020, Nguyễn Thanh T (đã có giấy phép lái xe mô tô theo qui định) điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 60N9-7685 chạy từ đường nội bộ Cụm công nghiệp Vĩnh Thanh - Phú Thạnh ra đường Quách Thị Trang. T điều khiển xe mô tô chạy bên trái đường Quách Thị Trang theo hướng xã Phú Thạnh đi xã Phú Đông. Khi đến Km 09+130 đường Quách Thị Trang thuộc ấp 3, xã Phú Thạnh, huyện N, tỉnh Đồng Nai, do T điều khiển xe mô tô chạy không đúng phần đường qui định, chạy bên trái theo chiều đi của mình nên đã đụng vào xe mô tô mang biển kiểm soát 60C2-279.00 do anh Nguyễn Ngọc T1 (sinh năm 1987, ngụ tại ấp Giồng Ông Đông, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai) điều khiển đang chạy ngược chiều. Tai nạn xảy ra anh làm anh Nguyễn Ngọc T1 bị thương tích nặng được đưa đi cấp cứu và đã chết tại Bệnh viện Quận 2 thành phố Hồ Chí Minh, còn T bị thương tích nhẹ.

* Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 2943/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:

- Hai tai – mũi – miệng có máu. Xây sát da mũi. Xây sát da cẳng chân trái. Tụ máu dưới da, cơ thái dương phải. Tụ máu dưới da, cơ thái dương trái. Nứt khớp hộp sọ thái dương – cẩm phải, nứt xương hộp sọ thái dương trái.

- Nguyên nhân tử vong: Chấn thương sọ não nặng, nứt xương thái dương trái, nứt khớp hộp sọ thái dương – chẩm phải.

* Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 21/12/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N xác định:

- Hiện trường của đoạn đường xảy ra tai nạn: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là Km 09+130 đường Quách Thị Trang thuộc ấp 3, xã Phú Thạnh, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Đường thẳng được trải nhựa bằng phẳng, đường hai chiều có vạch sơn màu vàng phân chia 02 hai chiều đường xe chạy (vạch sơn liên tục), mỗi chiều đường có hai làn được phân biệt bằng vạch sơn màu trắng liên tục, bề rộng mặt đường 10,85m. Tốc độ tối đa của đoạn đường là 60km/h.

- Điểm mốc: Hiện trường có điểm tiếp xúc gần nhất với mép đường bên trái của trụ điện số 94 nằm bên trong mép đường theo hướng huyện Long Thành đi xã Phú Đông làm điểm mốc hiện trường và chọn mép đường bên phải cùng chiều hướng với điểm mốc làm chuẩn. Điểm mốc cách mép đường bên trái 02 m.

+ Xe mô tô mang biển kiểm soát 60C2-279.00 ký hiệu (1) sau tai nạn nằm ngã về bên phải, đầu xe hướng về mép đường bên phải, hình chiếu tâm trục bánh trước cách vào mép đường bên phải 2.5m, hình chiếu tâm trục bánh sau cách vào mép đường bên phải 1.65m. Sau tai nạn xe ngã ở chiều đường đi về xã Phú Đông, gác chân bên phải cách vào mép đường bên phải 3.3m.

+ Vết cày thứ nhất được ký hiệu số (2), vết cày để lại trên mặt đường, vết cày cách vào mép đường bên phải 5.6m, nằm ở chiều đường đi về huyện Long Thành, vết cày dài 10.7m (từ đầu vết cày đến gác chân sau bên phải) chiều hướng vết cày xã Phú Đông đi Trung tâm huyện N.

+ Xe mô tô 60N9-7865 ký hiệu (3) sau tai nạn nằm ngã về bên trái, đầu xe hướng về xã Phú Đông, nằm ở chiều đường đi về huyện Long Thành. Hình chiếu tâm trục bánh trước cách vào mép đường bên phải 5.95m, hình chiếu tâm cách vào mép đường bên phải 5.6m, cách hình chiếu tâm trục bánh sau xe mô tô 60C2-279.00 (1) 1,97m. Gác chân trước bên trái cách vào mép đường bên phải 5.7m.xe mô tôđược dựng ở bên trong lề đường bên phải, đầu xe hướng về đường Lý Thái Tổ, tâm trục bánh trước cách vào mép đường bên phải 0.6m, cách tâm trục bánh sau xe mô tô 66G1-28465 là 9.45m. Tâm trụ bánh sau cách vào mép đường bên phải 0.45m, cách điểm mốc 8.6m.

+ Vết cày thứ hai được ký hiệu số (4) vết cày để lại trên mặt đường ở chiều đường đi về huyện Long Thành. Đầu vết cày cách vào mép đường bên phải 6.05m, vết cày dài 9.25m (từ đầu vết cày đến gác chân trước bên trái). Chiều hướng vết cày xã Phú Đông đi huyện Long Thành. Đầu vết cày cách đầu vết cày thứ nhất (2) 0.45m.

+ Vết nhớt thứ nhất ký hiệu (5), để lại trên mặt đường ở chiều đường đi về huyện Long Thành, đầu vết nhớt cách vào mép đường bên phải 5.8m, cách đầu vết cày thứ hai (4) 1.3m, chiều hướng vết nhớt xã Phú Đông đi huyện Long Thành.

+ Vết máu thứ nhất được ký hiệu (6) vết máu để lại trên mặt đường ở chiều đường đi về xã Phú Đông, vết máu có kích thước (0.3m x 0.35m) điểm của vết máu cách vào mép đường bên phải 3m, cách hình chiếu tâm trục bánh trước xe 60C2-279.00 (1) 1.35m.

+ Vết máu thứ hai được ký hiệu (7) vết máu để lại trên mặt đường ở chiều đường đi về huyện Long Thành, vết máu có kích thước (0.33m x 0.15m) điểm của vết máu cách vào mép đường bên phải 6.15m, cách hình chiếu tâm trục bánh trước xe 60N9-7865 (2) 0.9m.

* Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 21/12/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đối với xe mô tô mang biển kiểm soát 60C2-279.00, nhãn hiệu Honda, màu sơn vàng - đen. Mặt nạ phía trước vở nát kích thước (35cm x 40 cm). Đèn chiếu sáng phía trước bên phải vở, kích thước (17cm x 27 cm). Đèn chiếu sáng phía trước bên trái vỡ, kích thước (15cm x 10 cm). Vành bánh xe phía trước bị thụng (chiều hướng từ ngoài vào trong trục bánh), bị nứt gãy kim loại, bong tróc sơn kích thước 20cm, điểm giữa cách tâm trục bánh 12cm, cách van bánh xe 12cm. Bùn chắn gió bên phải vỡ. Ốp nhựa đầu góc bên phải và hộp đựng dầu phanh bánh trước mài mòn nhựa và kim loại kích thước (07cm x 03cm), mặt dưới ốp nhựa nứt gãy (06cm x 04cm). Tay phanh bên phải gãy. Mặt ngoài đầu tay lái bên phải mài mòn kim loại. Mặt trước tay lái bên phải mài mòn cao su. Mặt ngoài sàn để chân bên phải mài mòn nhựa. Mặt dưới gác chân sau bên phải mài mòn kim loại, kích thước (06cm x 2.5cm). Chảng ba cong về sau chiều hướng từ trước ra sau.

* Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 21/12/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đối với xe mô tô mang biển kiểm soát 60N9-7685: Chảng ba trước bị lệch sang bên trái. Vỏ máy bên trái bị vỡ kim loại (07cm x 14cm). Đầu máy bên trái có vết trầy xước kim loại, trục cố định dĩa sên cam bị cong về sau (chiều hướng từ trước ra sau), cách vết trầy xước kim loại 3.5cm, dính dầu nhớt. Mặt ngoài gác chân bên trái mài mòn cao su. Vè chắn bùn bánh trước gãy vỡ. Cổ xe mặt bên trái móp thụng chiều hướng từ trước ra sau từ trái sang phải kích thước (20cm x 10cm). Ốp nhựa đầu đèn xe góc bên trái có vết gãy nhựa, kích thước (08cm x 3cm). Ốp nhựa chảng ba bánh trước bên trái có vết ma sát, sạch bụi kích thước (03cm x 11cm).

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2022/HS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện N đã áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt: bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về bồi thường dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 10/5/2022, bị cáo Nguyễn Thanh T kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục đề nghị Hội đồng xét xử xem xét kháng cáo.

- Đại diện VKSND tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa nêu quan điểm vụ án:

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh T gây ra đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 260 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét xử bị cáo với mức án 01 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới, ngoài những tình tiết đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét cho nên đề nghị HĐXX bác kháng cáo của bị cáo, y án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung, theo tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện:

Vào ngày 21/12/2020, Nguyễn Thanh T điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 60N9-7685, chạy bên trái đường Quách Thị Trang theo hướng xã Phú Thạnh đi xã Phú Đông. Khi đến Km 09+130 đường Quách Thị Trang thuộc ấp 3, xã Phú Thạnh, huyện N, tỉnh Đồng Nai, do T điều khiển xe mô tô chạy không đúng phần đường qui định (chạy bên trái theo chiều đi của mình) nên đã đụng vào xe mô tô mang biển kiểm soát 60C2-279.00 do anh Nguyễn Ngọc T1 điều khiển đang chạy chiều ngược lại. Tai nạn xảy ra anh làm anh Nguyễn Ngọc T1 bị thương tích nặng được đưa đi cấp cứu và tử vong tại Bệnh viện Quận 2 thành phố Hồ Chí Minh (Theo Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 2943/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, nguyên nhân tử vong của anh Nguyễn Ngọc T1 do chấn thương sọ não nặng, nứt xương thái dương trái, nứt khớp hộp sọ thái dương – chẩm phải).

Với hành vi phạm tội nêu trên, bị cáo Nguyễn Thanh T đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a “làm chết người” khoản 1 Điều 260 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo:

Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương và còn gây ra cái chết thương tâm cho người bị hại, gây đau thương, mất mát không có gì bù đắp được cho gia đình nạn nhân. Nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn là do lỗi chủ quan của bị cáo đã đi không đúng làn đường, phần đường quy định khi tham gia giao thông đường bộ, vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ, gây hậu quả tuy không làm bị hại tử vong tại chỗ cũng là nghiêm trọng. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo. Khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục hậu quả và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo tiếp tục đồng ý bồi thường thêm cho gia đình bị hại số tiền 20.000.000 đồng theo yêu cầu của gia đình người bị hại và được gia đình người bị hại làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và xử phạt bị cáo mức án 01 (một) năm tù là phù hợp, đúng quy định pháp luật.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xin được hưởng án treo và cung cấp đơn xin xác nhận bị cáo từng tham gia phục vụ trong quân ngũ, luôn chấp hành các chính sách, quy định pháp luật của nhà nước và địa phương, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình phải chăm sóc cha mẹ già, con nhỏ, bị cáo đã ly hôn với vợ (có xác nhận của chính quyền địa phương) là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới chưa được cấp sơ thẩm xem xét.

HĐXX phúc thẩm xét thấy: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; đã tự nguyện bồi thường đầy đủ chi phí điều trị thương tích cho bị hại, tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo tiếp tục đồng ý bồi thường thêm cho gia đình bị hại số tiền 20.000.000 đồng theo yêu cầu của gia đình người bị hại và được gia đình người bị hại làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo từng phục vụ trong quân ngũ, có hoàn cảnh gia đình khó khăn là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó HĐXX chấp nhận kháng cáo và áp dụng thêm Điều 65 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) cho bị cáo, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục là cũng đủ nghiêm, phù hợp với quy định tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định về điều kiện hưởng án treo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật đối với người đã biết ăn năn hối cải.

[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;

Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh T; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 88/2022/HS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện N.

[2] Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thanh T cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai quản lý, giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ