vanban.org

Bản án 332/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An Tuyên án 13/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: bị cáo Lê Kim Ng 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/4/2018.

VKSNDTP Vinh; Cơ quan CSĐT CA TP Vinh; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Kim Ng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: bị cáo Lê Kim Ng 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/4/2018.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VINH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 333/2018/HS-ST
Ngày 13 tháng 8 năm 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. ông Trần Quốc Đấu

2. bà Phạm Thị Thu Hà

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Quang Bình – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Đào – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 331/2018/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 419/2018/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Kim Ng, sinh năm 1981 tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; nơi ĐKHKTT: khối x, phường C N, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện nay: khối 16, phường Hà Huy Tập, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Kim Th và bà Nguyễn Thị Th; có vợ là Phan Thị Thanh H và có 01 con sinh năm 2010, hiện sống với chị Hoàng Thị Thu Ng và có 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2018 đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13h30’, ngày 14/4/2018 Lê Kim Ng gọi điện cho Trần Diễn Th nhờ mua hộ ma túy thì Th đồng ý và bảo Ng đến nhà Th. Sau đó Ng đi đến gặp Th rồi cả hai đi đến nhà Nguyễn Văn Phúc ở xóm Mẫu Đơn, xã Hưng Lộc, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An để hỏi mua ma túy. Lúc đi đến nhà Phúc thì Trần Diễn Th ngồi ở phòng khách còn Lê Kim Ng đi đến giường ngủ nơi Phúc đang nằm để nói chuyện và hỏi mua của Phúc 01 gói ma túy đá giá 300.000đ, Phúc đồng ý bán. Ng đưa cho Phúc 300.000đ, Phúc cầm tiền và chỉ cho Ng lấy 01 gói ma túy để ở đầu giường nơi Phúc nằm, Ng cầm gói ma túy cất vào túi quần rồi cùng Trần Diễn Th đi về, trên đường về khi đi đến cổng chào thuộc xóm Mẫu Đơn, xã Hưng Lộc, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An thì bị Công an thành phố Vinh phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong người Ng 01 gói ma túy được bọc bằng bao potylen màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, Ng khai là ma túy cất để sử dụng.

Tại Kết luận giám định số 526/KL-PC54(MT) ngày 19/4/2018 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Lê Kim Ng gửi tới giám định là ma túy tổng hợp (Methamphetamine), khối lượng 0,235 gam.

Tại bản cáo trạng số 359/VKS-HS ngày 25/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lê Kim Ng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Kim Ng mức án từ 12 đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,235 gam ma túy tổng hợp (Methamphetamine).

Bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mà không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

2.1. Xét hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo Lê Kim Ng khai nhận: Khoảng 13h30’, ngày 14/4/2018 bị cáo gọi điện cho Trần Diễn Th nhờ mua hộ ma túy để sử dụng thì được Th đồng ý, sau đó Ng đi xe lai đến nhà Th rồi cả hai đến nhà Nguyễn Văn Phúc ở xóm Mẫu Đơn, xã Hưng Lộc, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An để mua ma túy. Lúc đến nhà Phúc thì Th ngồi ở phòng khách còn Ng đến giường ngủ nơi Phúc đang nằm hỏi và mua của Phúc 01 gói ma túy đá giá 300.000đ, mua được ma túy Ng cất vào túi quần rồi quay ra cùng Th đi về, khi đi đến cổng chào thuộc xóm Mẫu Đơn, xã Hưng Lộc, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An thì bị Công an thành phố Vinh phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong người Ng 01 gói ma túy. Kết quả giám định và xác định khối lượng thì loại ma túy mà Ng tàng trữ là ma túy tổng hợp Methamphetamine, khối lượng 0,235 gam. Lời khai của bị cáo về hành vi tàng trữ 0,235 gam ma túy mục đích để sử dụng phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ được tranh tụng tại phiên tòa. Như vây, có đủ cơ sở khẳng định hành vi của Lê Kim Ng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

2.2. Xét tính chất vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tội phạm thuộc loại nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi cất dấu ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng do thiếu bản lĩnh, không làm chủ được bản thân nên đã đi vào con đường phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết nhằm giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì khai báo thành khẩn. Gia đình bị cáo có công với cách mạng. Tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

2.3. Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.

2.5. Về vật chứng: 0,235 gam ma túy tổng hợp (Methamphetamine) thu giữ của bị cáo là vật tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với Trần Diễn Th và Nguyễn Văn Phúc vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra Trần Diễn Th không thừa nhận hành vi dẫn Lê Kim Ng đến gặp Nguyễn Văn Phúc để mua ma túy và cũng không biết Ng mua ma túy của Phúc vào thời điểm nào. Nguyễn Văn Phúc cũng không thừa nhận bán ma túy cho Lê Kim Ng. Lời khai của Trần Diễn Th và Nguyễn Văn Phúc thể hiện tại các bút lục từ 39 đến 41 và từ 61 đến 65 có tại hồ sơ vụ án. Ngoài lời khai của Lê Kim Ng không có tài liệu, chứng cứ nào thể hiện Trần Diễn Th và Nguyễn Văn Phúc có hành vi phạm tội. Vì vậy, không có cơ sở xử lý đối với Trần Diễn Th và Nguyễn Văn Phúc.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Lê Kim Ng 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/4/2018.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong có chứa ma túy tổng hợp (Methamphetamine) hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh theo phiếu nhập kho số NK1012 ngày 03/8/2018.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc Lê Kim Ng phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ các điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ