vanban.org

Bản án 331/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 19/06/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1].Căn cứ: Điểm b,p,q khoản 2, Điều 251; điểm h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt:

Lê Thị Thu H 10( M1) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và 07( B1) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 17( Mười bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ THỊ THU HÀ VÀ ĐỒNG PHẠM - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1].Căn cứ: Điểm b,p,q khoản 2, Điều 251; điểm h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Luật Quản lý
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3- HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:331/2026/HS-ST
Ngày: 19/06/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vỹ

Bà Trần Thị Kim Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3- Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 06 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3-Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 272/2026/TLST- HS ngày 14 tháng 05 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 330/2026/QĐXXST- HS ngày 20 tháng 05 năm 2026, đối với bị cáo:

1. LÊ THỊ THU H, sinh năm: 1975, tại: Hà Nội; CCCD: 001175002491; Nơi thường trú: H M, phường B, thành phố Hà Nội; Cư trú: 88 ngõ H B, phường B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Quang Đ( đã chết), con bà Nguyễn Thị H1( đã chết); Có 02 con: sinh năm 1999, 2015; Tiền án: Bản án số 592/1995/HSST ngày 19/12/1995 Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 42 tháng tù tội Cố ý gây thương tích. Bản án số 83/HSPT ngày 27/02/1996 Tòa án Phúc thẩm tại Hà Nội – Tòa án nhân dân Tối cao y án sơ thẩm. Thời hạn tù tính từ ngày 24/07/1995. Ra trại ngày 24/10/1998; Bản án số 63/2001/HSST ngày 20/04/2001 Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 20 năm tù tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bản án số 1169/HSPT ngày 27/07/2001 Tòa án Phúc thẩm tại Hà Nội – Tòa án nhân dân Tối cao y án sơ thẩm. Thời hạn tù tính từ ngày 24/05/2000. Ra trại ngày 24/05/2014; Bản án số 413/2016/HSST ngày 26/10/2016 Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Ra trại ngày 12/05/2023; Nhân thân: Bản án số 549/1990/HSST ngày 28/11/1990 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 05 năm tù tội Giết người. Bản án số 534/HSPT ngày 06/05/1991 Tòa án Phúc thẩm – Tòa án nhân dân Tối cao xử 03 năm tù về tội Giết người. Thời hạn tù tính từ ngày 18/06/1990. Ra trại ngày 18/09/1992( phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi); Tiền sự: Không;

Bị bắt, tạm giữ ngày 18/12/2025; Tạm giam tại Trại tạm giam số 02-Công an thành phố H(có mặt).

2. BÙI DUY H2, sinh năm 1988; tại: Quảng Ninh; CCCD: 022088066955; Nơi thường trú: Số H, Khu phố C, phường C, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Văn Đ1; con bà: Nguyễn Thị H1; Tiền án: Bản án số 160/2010/HSST ngày 10/12/2010 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 13 năm tù tội Giết người, 02 năm tù tội Cố ý gây thương tích, 07 năm tù tội Cướp tài sản và 02 năm tù tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Tổng hợp hình phạt chung là 24 năm tù. Bản án số 183/HSPT ngày 28/03/2011 Tòa án Phúc thẩm tại Hà Nội – Tòa án nhân dân Tối cao y án sơ thẩm. Thời hạn tù tính từ ngày 25/03/2010. Ra trại ngày 25/02/2024; Nhân thân: Năm 2008 Công an thị xã C, tỉnh Quảng Ninh xử phạt hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích, mức phạt 1.500.000 đồng;

Bị bắt, tạm giữ ngày 17/12/2025; Tạm giam tại Trại tạm giam số 02-Công an thành phố H(có mặt).

3. BÙI THẾ A, sinh năm 1976; tại: Hà Nội; CCCD: 001076022595; Nơi thường trú: Tổ B, phường B, thành phố Hà Nội; Cư trú: 88 ngõ H B, phường B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Đình K( đã chết), con bà: Nguyễn Thị P; Vợ: Không; Có 01 con sinh năm 2006; Tiền án: Bản án số 519/1997/HSST ngày 13/10/1997 Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù tội Tổ chức đánh bạc. Quyết định số 42/HSPT ngày 31/12/1997 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đình chỉ xét xử phúc thẩm. Ra trại ngày 13/06/1998; Bản án số 202/2016/HSST ngày 12/04/2016 Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 32 tháng tù tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 16/05/2018; Bản án số 148/2019/HSST ngày 25/06/2019 Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 05 năm 06 tháng tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 06/09/2023; Nhân thân: - Năm 1990 Công an quận H, thành phố Hà Nội xử phạt cảnh cáo về hành vi Cưỡng đoạt tài sản; Năm 1998 Công an quận H, thành phố Hà Nội xử phạt cảnh cáo về hành vi Cố ý gây thương tích;

Bắt khẩn cấp, tạm giữ ngày 18/12/2025; Tạm giam tại Trại tạm giam số 02- Công an thành phố H(có mặt).

4. NGUYỄN VĂN T, sinh năm 1990; tại: Thanh Hóa; CCCD: 038090010011; Nơi thường trú: Thôn F, xã T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn H3; con bà: Đào Thị S; Có vợ: Hoàng Thị Đ2; Có 03 con sinh năm 2014, 2019; 2025;Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị bắt, tạm giữ ngày 17/12/2025; Tạm giam tại Trại tạm giam số 02- Công an thành phố H(có mặt).

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Vũ Tuấn A1, sinh năm: 1989

- Anh Trần Trung H4, sinh năm: 1988

- Anh Hoàng Thiện T1, sinh năm: 1981

- Anh Lê Khắc B, sinh năm: 1984

- Anh Nguyễn Anh T2, sinh năm: 1984

Địa chỉ: Công an phường V- số A, ngõ B L, phường V, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1]. Khoảng 15 giờ ngày 17/12/2025, tổ công tác công an phường V gồm các đồng chí: Vũ Tuấn A1, Trần Trung H4, Hoàng Thiện T1, Lê Khắc B, Nguyễn Anh T2 làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực trước số nhà A phố L, phường V, thành phố Hà Nội phát hiện đối tượng Bùi Duy H2 có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác yêu cầu kiểm tra. Quá trình tổ công tác đang tiến hành kiểm tra, H2 bất ngờ dùng tay phải lấy ra 01 vật có hình dáng giống khẩu súng ngắn ổ quay dài khoảng 12 cm có tay cầm bọc nhựa màu đen bên trong túi cầm tay mang theo bên người. Khi H2 chuẩn bị nâng khẩu súng lên thì bị tổ công tác khống chế tước súng của H2. Tiếp tục kiểm tra, tổ công tác phát hiện bên trong chiếc túi cầm tay màu đen kích thước khoảng (16,5 x 24) cm gắn chữ "LV" màu vàng của H2 có các đồ vật gồm: 01 (một) túi nilon kích thước khoảng (08 x 4,5) cm bên trong chứa 04 (bốn) viên nén màu tím, kích thước mỗi viên khoảng (01x01) cm; 02 (hai) túi nilon kích thước khoảng (2,5 x 2,5) cm bên trong mỗi túi chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) túi nilon màu vàng kích thước khoảng (09 x06) cm bên ngoài có chữ ferrari; 01 (một) cân điện tử màu đen kích thước khoảng (7,5 x 12) cm. Tại chỗ, H2 khai nhận các viên nén màu tím, tinh thể màu trắng và túi nilon màu vàng là ma túy H2 mang theo để sử dụng cho bản thân; Vật hình dạng súng là H2 mang theo nhằm mục đích chống trả lại lực lượng chức năng nếu bị kiểm tra phát hiện. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, đưa H2 cùng tang vật về trụ sở để điều tra làm rõ.

Tại cơ quan Công an, Bùi Duy H2 khai nhận số ma túy bị thu giữ là do H2 mua của người phụ nữ tên H vào ngày 15/12/2025 tại khu vực ngã 3 Hồ N - B, phường B, thành phố Hà Nội và H2 có thể nhận ra H nếu được gặp lại. Tiến hành rà soát, xác minh tại công an phường B, Hà Nội xác định người đã bán ma túy cho H2 là Lê Thị Thu H (Sinh năm: 1975, Nơi thường trú: H M, phường B, Hà Nội) hiện đang sinh sống tại địa chỉ H ngõ H B, phường B, Hà Nội.

Quá trình xác minh, vào khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, tại trước cửa nhà Lê Thị Thu H ở số H ngõ H B, phường B, Hà Nội, tổ công tác công an phường V kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn T có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, T tự giao nộp 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước khoảng (02 x 02) cm bên trong chứa tinh thế màu trắng và 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước khoảng (05 x 08) cm bên trong chứa 02 viên nén màu hồng. Tại chỗ, T khai nhận tinh thể màu trắng và viên nén màu hồng bị thu giữ là ma túy T mua của Lê Thị Thu H vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 14/12/2025 với giá 500.000 đồng. Ngoài ra trước đó T vừa sử dụng ma túy tại phòng ngủ của H ở tầng 2 nhà số H ngõ H B, phường B, Hà Nội. Kết quả dẫn giải xác định vị trí sử dụng ma túy và chỗ ở của Lê Thị Thu H như đã nêu trên.

Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 17/12/2025, tổ công tác công an phường V tiến hành kiểm tra nơi ở của Lê Thị Thu H tại tầng 2 số H ngõ H B, phường B, Hà Nội. Quá trình kiểm tra, Lê Thị Thu H tự giao nộp các đồ vật, tài liệu gồm: 01 (một) đĩa sứ màu trắng kích thước khoảng (25 x 25) cm, bên trên mặt đĩa có chứa tinh thể màu trắng được thu giữ vào trong 01 (một) túi nilon kích thước khoảng (09 x 06) cm cùng 01 thẻ nhựa màu đen kích thước khoảng (09 x 06) cm cùng 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2000 đồng; 01 (một) bộ tẩu hút tự tạo; 01 (một) bật lửa khò hình trụ tròn dài khoảng 16,5 cm; 01 (một) túi nilon kích thước khoảng (07 x 04) cm bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) túi nilon kích thước khoảng (6,5 x 4) cm bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) túi nilon kích thước khoảng (3,5 x 3) cm bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, H khai nhận số tinh thể màu trắng, chất bột màu trắng và số đồ vật trên là ma túy H cất dấu để sử dụng. Tại thời điểm kiểm tra, tại tầng 2 của ngôi nhà 88 ngõ H B, Hà Nội còn có Bùi Thế A và Lê Thanh T3 (Sinh năm: 1986, Nơi thường trú: A17 M, phường B, Hà Nội). Tổ công tác đã tiến hành lập các biên bản và đưa các đối tượng cùng tang vật về trụ sở để tiếp tục xác minh làm rõ. Tang vật thu giữ của vụ án gồm:

* Tạm giữ của Bùi Duy H2: - 01 (một) đồ vật hình dạng súng ngắn ổ quay có 06 lỗ lắp đạn, tay cầm có logo hình tròn nhãn hiệu HD GUES GRIP có chiều dài khoảng 12cm có tay cầm bọc nhựa màu đen, bên trong ổ quay có 01 viên đạn không có dấu vết kim hoa, ở phần đáy có ký hiệu chữ C, có vỏ và đầu đạn bằng kim loại hình trụ tròn dài 2,5 cm.

- 01 (một) chiếc túi cầm tay màu đen, kích thước 16,5x24cm, gắn logo LV bằng kim loại màu vàng, bên trong túi có:

+) 01 (một) túi nilon kích thước khoảng 8x4,5cm, bên trong chứa 04 (bốn) viên nén màu tím, kích thước mỗi viên khoảng 01x01cm.

+) 02 (hai) túi nilon kích thước mỗi túi khoảng 2,5x2,5 cm bên trong chứa tinh thể màu trắng.

+) 01(một) túi nilon màu vàng, kích thước khoảng 9x6cm, bên ngoài có in chữ ferrari.

+) 01 (một) túi nilong kích thước Tx4 cm bên trong có 08(tám) viên đạn không có dấu vết kim hoa, ở phần đáy có ký hiệu chữ C, có vỏ và đầu đạn bằng kim loại hình trụ tròn dài 2,5 cm.

+) 01 (một) cân điện tử màu đen, kích thước khoảng 7,5 cm x 12cm. - 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 11 Promax màu ghi, số imei 1: 35383210434349435, số imei 2: 353832104462071, đã qua sử dụng;

- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen, đỏ không có biển kiểm soát, SK: RLHJK0380SY131420, SM: JK03E-1583991;

- 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax màu đen, số imeil: 357879432901102, số imei 2: 357879433058944, đã qua sử dụng. (kiểm tra có nội dung tin nhắn zalo trao đổi mua ma túy với H)

* Tạm giữ của Lê Thị Thu H: - 01 (một) đĩa sứ màu trắng, kích thước khoảng 25x25cm, bên trên mặt đĩa có chứa tinh thể màu trắng, được thu giữ vào trong 01 (một) túi nilon kích thước khoảng 9x6cm cùng 01 thẻ nhựa màu đen kích thước khoảng 9x6cm, cùng 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2000 đồng.

- 01 (một) bộ tẩu hút tự tạo.- 01 (một) bật lửa khò hình trụ tròn dài khoảng 16,5cm.

- 01 (một) túi nilon kích thước khoảng 7x4cm bên trong chứa tinh thể màu trắng.

- 1 (một) túi nilon kích thước khoảng 6,5x4cm bên trong chứa tinh thể màu trắng.

- 01 (một) túi nilon kích thước khoảng 3,5x3cm bên trong chứa chất bột màu trắng.

- 01 điện thoại di động kiêu dáng Iphone XS Max màu vàng, dung lượng 256Gb, số imei: 353100103693249, số imei2: 353100103711736, đã qua sử dụng;

- 01 điện thoại di động kiểu dáng Oppo A71 màu vàng, dung lượng 16Gb, số imei 1: 868499036247257, sô imei 2: 868499036247240, đã qua sử dụng;

- 01 điện thoại kiểu dáng Samsung Galaxy A12 màu trắng, số imei 1: 357026898999317, số imei 2: 357412788999312 đã qua sử dụng;

- 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy A15 màu vàng, số imei 1: 357301900671281, số imei 2: 357371920671280, đã qua sử dụng;

* Tạm giữ của Nguyễn Văn T: - 01 (Một) túi nilon màu trắng kích thước 02x02 (cm) bên trong có chứa tinh thể màu trắng ;

- 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước khoảng (05 x 08) cm bên trong chứa 02 viên nén màu hồng;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax màu xanh, imei 1: 3548608997994561, imei2: 354860897762323, đã qua sử dụng.

* Tạm giữ của Bùi Thế A: - 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Samsung M54, số imeil: 353065221038595, số imei2: 356731581038593, đã qua sử dụng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với tang vật thu giữ của Bùi Duy H2, Lê Thị Thu H, Nguyễn Văn T, Bùi Thế A. Kết quả:

* Tại bản Kết luận giám định số 9147 ngày 27/12/2025 của Phòng K1

- Công an thành phố H, kết luận đối với tang vật thu giữ của Bùi Duy H2:

+) Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon đều là ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng 2,692 gam.

+) 04 (bốn) viên nén màu tím bên trong 01(một) túi nilong đều là ma tuý loại MDMA, tổng khối lượng 1,765 gam.

+) Chất bột màu cam bên trong 01 túi nilon màu vàng bên ngoài có in chữ Ferrari, đều có ma tuy loại Ketamine và ma tuý loại MDMA, tổng khối lượng là 3,996 gam.

+) 01 (một) cân điện tử màu đen có dính ma túy loại methaphetamine.

* Tại bản Kết luận giám định số 9146 ngày 27/12/2025 của Phòng K1

- Công an thành phố H, kết luận đối với tang vật thu giữ của Lê Thị Thu H:

+) Tinh thể màu trắng bên trong 01(một) túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,489 gam.

+) Tinh thể màu trắng bên trong 01(một) túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,248 gam.

+) Tinh thể màu trắng bên trên 01 đĩa sứ kích thước 25x25cm là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,050 gam.

+) Chất bột màu trắng bên trong 01 (một) túi nilon là ma túy loại Heroin, có khối lượng 0,299gam.

+) 01 (một) thẻ nhựa màu đen và 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2000 đồng đều có dính ma túy loại ketamine.

+) 01 (một) bộ tẩu hút tự tạo có dính ma túy loại Methamphetsamine.

* Tại bản Kết luận giám định số 9134 ngày 27/12/2025 của Phòng K1

- Công an thành phố H, kết luận đối với tang vật thu giữ của Nguyễn Văn T:

+) 01 (một) túi nilon bên trong có tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methaphetamine, khối lượng 0,346 gam.

+) 02 (hai) viên nén màu hồng đều là ma túy loại Methaphetamine, tổng khối lượng 0,196 gam.

* Tại bản Kết luận giám định số 8941 ngày 25/12/2025 của Phòng K1

- Công an thành phố H, kết luận:

+ Mẫu vật ký hiệu A1 là súng ổ quay tự chế, thuộc vũ khí quân dụng theo điêm g, khoản 2, điều 2, Luật số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024 của Quốc hội.

+ Các mẫu vật ký hiệu từ A2 đến A10 gửi giám định là đạn quân dụng cỡ (5,6x15) mm theo điểm g, khoản 2, điều 2, Luật số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024 của Quốc hội.

Quá trình điều tra, các bị can Lê Thị Thu H, Bùi Duy H2, Bùi Thế A, Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với lời khai nhân chứng, người liên quan và các tài liệu chứng cứ cơ quan Điều tra thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án. Có căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị can, cụ thể như sau:

1. Đối với hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của Lê Thị Thu H: - Hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý: Do không có việc làm ổn định nên Lê Thị Thu H đã nảy sinh ý định mua ma tuý về để bán kiếm lời. Khi có khách hỏi mua ma tuý, H sẽ ra khu vực chợ đầu mối Phía N, phường T, thành phố Hà Nội, mua ma tuy của đối tượng tên T4 (H không biết tên thật và nơi ở của T4) về bán cho khách. Trong các ngày 14/12/2025 và ngày 15/12/2025, H đã bán ma tuý 02 lần, cụ thể:

Lần 1: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 14/12/2025, tại trước cửa hàng xe máy của T tại số D T, phường T, thành phố Hà Nội, H đã bán cho Nguyễn Văn T 01(một) gói ma túy đá và 03 (ba) viên ngựa hồng (ma túy tổng hợp) với giá 500.000 đồng, hưởng lợi 100.000 đồng, số tiền này H đã ăn tiêu một mình hết.

Lần 2: Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 15/12/2025, tại ngã ba phố H - B, phường B, thành phố Hà Nội, H đã bán cho H2 05 (Năm) viên ma túy "Kẹo", 03 (Ba) túi ma túy "Ketamin" và 02 (Hai) túi ma túy "Nước vui" với giá 9.500.000 đồng, H2 trả tiền mặt, hưởng lợi 700.000 đồng, số tiền này H đã ăn tiêu một mình hết.

- Hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 17/12/2025, tại tầng 2 nhà số H ngõ H phố B, phường B, Lê Thị Thu H lấy tẩu hút tự tạo bên trong có sẵn ma tuý loại M đưa cho Nguyễn Văn T để T sử dụng ma túy. T thấy trong bình đã có sẵn ma túy đá nên đã châm lửa và hút 03 (ba) lần. Sau khi hút xong T đi xuống tầng 1 đi về. Khi vừa xuống đến cửa thì T bị lực lượng công an kiểm tra, bắt giữ.

2. Đối với hành vi Chống người thi hành công vụ, Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng và Tàng trữ trái phép chất ma túy của Bùi Duy H2: Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 15/12/2025, tại ngã ba phố H - B, phường B, thành phố Hà Nội, H2 mua của H 05 (Năm) viên ma túy "Kẹo", 03 (Ba) túi ma túy "Ketamin" và 02 (Hai) túi ma túy "Nước vui" với giá 9.500.000 đồng, mục đích sử dụng. Sau đó H2 đã sử dụng hết 01 (một) viên ma túy "kẹo"; 01 (một) 01 túi ma túy "ketamin" và 01 (một) túi ma túy nước vui. Số còn lại H2 cất giấu trong túi để khi cần sẽ lấy ra sử dụng tiếp. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 17/12/2025, H2 mang theo số ma túy còn lại trong người và điều khiển xe máy đi công việc, khi đến trước số A L, phường V, thành phố Hà Nội thì bị tổ công tác công an phường V gồm 5 đồng chí Vũ Tuấn A1, Trần Trung H4, Hoàng Thiện T1, Lê Khắc B, Nguyễn Anh T2 đang làm nhiệm vụ tuần tra tiến hành kiểm tra. Do sợ bị bắt nên H2 đã rút khấu súng từ trong túi cầm tay màu đen ra mục đích để chống trả, thoát thân, chưa kịp sử dụng súng thì bị các đồng chí công an khống chế, bắt giữ. H2 khai rút súng nhằm mục đích để mọi người xung quanh nhìn thấy sẽ thuận lợi cho việc bỏ chạy, không sử dụng súng bắn người khác với mục đích gây thương tích, tước đoạt tính mạng. Các đồng chí Vũ Tuấn A1, Trần Trung H4, Hoàng Thiện T1, Lê Khắc B, Nguyễn Anh T2 không bị thương tích gì trong quá trình khống chế Bùi Duy H2 và không có yêu cầu bồi thường dân sự.

Về nguồn gốc khẩu súng, H2 khai mua của một nam thanh niên tên A C người Trung Quốc, ở cửa khẩu M2 - Quảng Ninh với giá 6.000.000 đồng vào tối ngày 14/12/2025, mục đích để mang theo người phòng thân. A C có đặc điểm cao khoảng 155 cm, dáng người thấp bé, nói giọng ngọng. H2 không biết tên thật hay địa chỉ của A C, do thời gian đã lâu nên H2 không nhớ được vị trí, địa điểm giao dịch mua súng.

*Đối với hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn T: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 14/12/2025, tại trước cửa hàng xe máy của T tại số D T, phường T, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn T mua của Lê Thị Thu H 01 (một) gói ma túy đá và 03 (ba) viên ngựa hồng là ma tủy tổng hợp với giá 500.000 đồng, mục đích sử dụng. Sau khi mua được ma túy, T sử dụng 01 viên ngựa hồng, số ma tuy còn lại T cất giữ trong người để sử dụng dần. Đến khoảng 22 giờ 00 phút ngày 17/12/2025, T mang theo số ma túy còn lại đến nhà Lê Thị Thu H chơi, khi T ra về đến trước cửa nhà số H ngõ H phố B, phường B, Hà Nội thì bị tổ công tác công an phường V bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

*Đối với hành vi Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuy của Bùi Thế A: Bùi Thế A và Lê Thị Thu H ăn ở và chung sống với nhau tại tầng 2 nhà số H ngõ H B, phường B, thành phố Hà Nội. Căn phòng này của Bùi Thế A được gia đình giao cho quản lý, sử dụng. Việc H có ma túy và sử dụng tại nhà Thế A có biết và đồng ý cho H sử dụng, đã có 2 đến 3 lần Thế A được H mời sử dụng ma túy cùng nhưng không nhớ thời gian cụ thể. Ngày 17/12/2025, khi H không có nhà, Thế A đã tự lấy bộ tẩu tự tạo của H ra để sử dụng số ma túy mà H để sẵn trong tẩu, việc Thế A sử dụng ma tuý của H, H không biết. Thế A không biết nguồn gốc số ma túy mà H sử dụng từ đâu mà có. Việc H có bán ma túy hay không, có cho người khác sử dụng ma túy tại nhà hay không thì Thế A không biết và không tham gia cùng.

Tiến hành xét nghiệm ma túy đối với Bùi Duy H2, Lê Thị Thu H, Nguyễn Văn T, Bùi Thế A, Lê Thanh T3, kết quả: Dương tính. Qua xác minh, H2, H, T, Thế A, T3 không thuộc diện đang trong thời hạn điều trị cai nghiện hay quản lý sau cai của Cơ sở cai nghiện và chính quyền địa phương nơi cư trú.

Quá trình điều tra xác định Lê Thanh T3 là bạn, đến nhà H chơi, không biết H cất giấu ma túy. Lê Thanh T3 đã sử dụng ma túy trước khi đến nhà H chơi. Công an phường V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Thanh T3.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Lê Thị Thu H, H khai người này xưng tên là T4, H không biết tên tuổi đầy đủ và địa chỉ, kết quả dẫn giải xác định nơi mua bán ma túy diễn ra tại khu vực chợ đầu mối Phía N, phường T, thành phố Hà Nội nhưng H không xác định được đối tượng bán ma túy nên cơ quan Điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Đối với các đồ vật bị thu giữ được xác định như sau:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax màu xanh, imei 1: 3548608997994561, imei2: 354860897762323, đã qua sử dụng thu giữ của T; 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Samsung M54, số imeil: 353065221038595, số imei2: 356731581038593, đã qua sử dụng thu giữ của Thế A; 04 chiếc điện thoại thu giữ của H gồm: 01 điện thoại di động kiểu đáng Iphone XS Max màu vàng, dung lượng 256Gb, số imei: 353100103693249, số imei2: 353100103711736, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động kiếu dáng Oppo A71 màu vàng, dung lượng 16Gb, số imei 1: 868499036247257, sô imei 2: 868499036247240, đã qua sử dụng; 01 điện thoại kiểu dáng Samsung Galaxy A12 màu trắng, số imei 1: 357026898999317, số imei 2: 357412788999312 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy A15 màu vàng, số imei 1: 357301900671281, số imei 2: 357371920671280, đã qua sử dụng và 02 chiếc điện thoại thu giữ của H2 gồm: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 11 Promax màu ghi, số imei 1: 35383210434349435, số imei 2: 353832104462071, đã qua sử dụng;01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax màu đen, số imeil: 357879432901102, số imei 2: 357879433058944, đã qua sử dụng, là tài sản cá nhân, sử dụng liên lạc cá nhân và sử dụng trao đối liên quan đến ma tuý.

Đối với 01 bộ tẩu hút tự tạo bị thu giữ là do H tự tạo để sử dụng ma túy, 01 bật lửa khò là của H dùng sử dụng ma tuý.

Đối với 01 chiếc cân điện tử bị thu giữ là của H2 mua để sử dụng chia ma túy sử dụng dần.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen, đỏ không có biến kiếm soát, SK: RLHJK0380SY131420, SM: JK03E-1583991 thu giữ của H2, là tài sản cá nhân, sử dụng làm phương tiện đi lại hàng ngày.

Các tang vật trên được chuyên Phòng thi hành án dân sự khu vực 3, thành phố Hà Nội để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Cáo trạng số 102/CT-VKSKV3 ngày 13/05/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Hà Nội đã truy tố Lê Thị Thu H tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b,p,q khoản 2, Điều 251 Bộ luật Hình sự và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố Bùi Duy H2 tội Chống người thi hành công vụ quy định tại điểm đ khoản 2, Điều 330 Bộ luật Hình sự và Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm n,o Khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng theo điểm h Khoản 2 Điều 304 Bộ luật Hình sự; truy tố Bùi Thế A tội Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 256 Bộ luật Hình sự; truy tố Nguyễn Văn T tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điểm c khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[2] Tại phiên tòa:

Bị cáo H khai nhận có mua ma túy của đối tượng tên là T4 không rõ lai lịch về bán cho Bùi Duy H2 với số tiền 9.500.000 đồng, hưởng lợi 500.000 đồng; bán ma túy cho Nguyễn Văn T với số tiền 500.000 đồng hưởng lợi 100.000 đồng. Bị cáo T xác nhận khối lượng ma túy bị thu giữ là mua của bị cáo H mục đích để sử dụng. Bị cáo Thế A khai sống cùng với H, mặc dù biết H có sử dụng ma túy nhưng không ngăn cản vẫn cho H ở cùng, sử dụng chỗ ở của Thế A để H trực tiếp sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo Bùi Duy H2 lúc đầu khai báo không thành khẩn, loanh quanh đối với hành vi chống người thi hành công vụ và tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng sau đó đã khai báo lại một cách đầy đủ và đúng sự thật diễn biến việc phạm tội. Bị cáo H2 khai nhận toàn bộ số ma túy bị cơ quan công an thu giữ là bị cáo mua của Lê Thị Thu H mục đích để sử dụng, khi bị cơ quan công an kiểm tra bị cáo lo sợ nên đã thò tay lấy súng ổ quay mục đích để cơ quan công an nhìn thấy bị cáo có súng mà không tiếp tục thực hiện việc khám xét nữa. Bị cáo không có ý định sử dụng súng để bắn hay gây thương tích cho lực lượng công an.

Các bị cáo Lê Thị Thu H, Bùi Thế A, Bùi Duy H2, Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng số 102/CT-VKSKV3 ngày 13/05/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Hà Nội đã truy tố.

Các bị cáo đều nhận thức được hành vi phạm tội của mình bị truy tố là đúng người, đúng tội, quá trình điều tra không bị ai đánh đập, đe dọa, ép cung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Hà Nội sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử :

Căn cứ: Điểm b,p,q khoản 2, Điều 251; điểm h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt:

- Lê Thị Thu H từ 10 năm tù đến 11 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là từ 17 năm 06 tháng tù đến 19 năm 06 tù.

Căn cứ: Điểm đ khoản 2, Điều 330; điểm n,o Khoản 2 Điều 249 và điểm h Khoản 2 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt:

- Bùi Duy H2 từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội Chống người thi hành công vụ; từ 06 năm tù đến 07 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và từ 05 năm tù đến 06 năm tù về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả ba tội là từ 13 năm 06 tháng tù đến 16 năm tù.

Căn cứ: Điểm đ, khoản 2, Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt:

- Bùi Thế A từ 07 năm tù đến 08 năm tù về tội Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy.

Căn cứ: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt:

- Nguyễn Văn T từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo;

* Tịch thu: - 01 (một) phong bì còn nguyên vẹn niêm phong được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên, đối tượng Bùi Duy H2 bên trong có 01 (một) đồ vật hình dạng súng ngắn ổ quay có 06 lỗ lắp đạn, tay cầm có logo hình tròn nhãn hiệu HD GUES GRIP có chiều dài khoảng 12cm có tay cầm bọc nhựa màu đen, bên trong ổ quay có 01 viên đạn không có dấu vết kim hỏa, ở phần đáy có ký hiệu chữ C, có vỏ và đầu đạn bằng kim loại hình trụ tròn dài 2,5cm và 08(tám) viên đạn không có dấu vết kim hoa, ở phần đáy có ký hiệu chữ C, có vỏ và đầu đạn bằng kim loại hình trụ tròn dài 2,5 cm.

Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố H phối hợp với Bộ Tư lệnh Thủ đô tiến hành các thủ tục giao nhận, quản lý và xử lý số vũ khí quân dụng, đạn quân dụng nêu trên theo đúng quy định của pháp luật.

* Tịch thu tiêu huỷ:

- 01 chiếc túi cầm tay màu đen, kích thước 16,5x24cm, gắn logo LV bằng kim loại màu vàng.

- 01 (một) phong bì còn nguyên vẹn niêm phong được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên- Nguyễn Hoàng H5, cán bộ công an phường V- Trần Trung H4, đối tượng Bùi Duy H2 bên trong có chứa ma túy phần còn lại sau khi Phòng PC09 thu mẫu và 01 cân điện tử màu đen kích thước khoảng 7,5x12 cm

- 01 (một) phong bì còn nguyên vẹn niêm phong được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên- Nguyễn Hoàng H5, cán bộ công an phường V- C, đối tượng Lê Thị Thu H bên trong có chứa ma túy phần còn lại sau khi Phòng PC09 thu mẫu, 01 (một) đĩa sứ màu trắng kích thước khoảng 25x25cm, 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng có dính ma túy; 01 thẻ nhựa màu đen kích thước khoảng 9x6 cm, 01 bộ tẩu thuốc tự tạo; 01 bật lửa khò hình trụ tròn dài khoảng 16,5 cm thu giữ của Lê Thị Thu H.

- 01 (một) phong bì còn nguyên vẹn niêm phong được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên- Nguyễn Hoàng H5, cán bộ công an phường V- Trần Minh Đ3, đối tượng Nguyễn Văn T bên trong có chứa ma túy phần còn lại sau khi Phòng PC09 thu mẫu

*Tịch thu sung ngân sách nhà nước:

- 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 11 Promax màu ghi, số imei 1: 35383210434349435, số imei 2: 353832104462071, đã qua sử dụng thu giữ của Bùi Duy H2.

- 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax màu đen, số imeil: 357879432901102, số imei 2: 357879433058944, đã qua sử dụng thu giữ của Bùi Duy H2. (kiểm tra có nội dung tin nhắn zalo trao đổi mua ma túy với H)

- 01 điện thoại kiểu dáng Samsung Galaxy A12 màu trắng, số imei 1: 357026898999317, số imei 2: 357412788999312 đã qua sử dụng thu giữ của Lê Thị Thu H;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax màu xanh, imei 1: 3548608997994561, imei2: 354860897762323, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn T.

* Trả lại cho Lê Thị Thu H:

- 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS Max màu vàng, dung lượng 256Gb, số imei: 353100103693249, số imei2: 353100103711736, đã qua sử dụng;

- 01 điện thoại di động kiểu dáng Oppo A71 màu vàng, dung lượng 16Gb, số imei I: 868499036247257, sô imei 2: 868499036247240, đã qua sử dụng;

- 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy A15 màu vàng, số imei 1: 357301900671281, số imei 2: 357371920671280, đã qua sử dụng;

* Trả lại cho Bùi Thế A:

- 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Samsung M54, số imeil: 353065221038595, số imei2: 356731581038593, đã qua sử dụng.

* Trả lại cho bị cáo Bùi Duy H2: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen, đỏ không có biển kiểm soát, SK: RLHJK0380SY131420, SM: JK03E-1583991;

* Truy thu số tiền 600.000 đồng hưởng lợi bất chính của bị cáo Lê Thị Thu H.

[3]. Phần tranh luận tại phiên tòa: Các bị cáo thừa nhận nội dung Viện kiểm sát truy tố, luận tội đối với hành vi phạm tội của các bị cáo là đúng, không oan, sai nên không có tranh luận gì.

[4]. Lời nói sau cùng của bị cáo: các bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố H, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Hà Nội, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Xét hành phạm tội của các bị cáo: Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa thể hiện: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu được trong vụ án và kết luận giám định. Đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 17/12/2025, tại trước số A L, phường V, thành phố Hà Nội, Bùi Duy H2 có hành vi Tàng trữ trái phép 2,692 gam ma túy loại Ketamine; 1,765 gam ma tuý loại MDMA; 3,996 gam ma túy loại Ketamine và ma túy loại MDMA, mục đích để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác công an phường V tiến hành kiểm tra. Quá trình bị kiểm tra, Bùi Duy H2 không chấp hành và sử dụng 01 súng ổ quay tự chế, thuộc vũ khí quân dụng cản trở việc thi hành công vụ của tổ công tác thì bị tổ công tác khống chế, thu giữ vật chứng và đưa về trụ sở làm việc.

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 17/12/2025, tại trước cửa nhà số H ngõ H phố B, phường B, Hà Nội, tổ công tác công an phường V bắt quả tang Nguyễn Văn T có hành vi Tàng trữ trái phép 0,542 gam ma tuy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an phát hiện, bắt giữ. Nguồn gốc số ma tuý thu giữ của Bùi Duy H2, Nguyễn Văn T do H2, T mua của Lê Thị Thu H.

Trong các ngày 14/12/2025 và ngày 15/12/2025, H đã bán ma tuý 02 lần, cụ thể: Lần 1: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 14/12/2025, tại trước cửa hàng xe máy của T tại số D T, phường T, thành phố Hà Nội, H đã bán cho Nguyễn Văn T 0,542 gam ma tuý loại Methamphetamine với giá 500.000 đồng, hưởng lợi 100.000 đồng. Lần 2: Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 15/12/2025, tại ngã ba phố H - B, phường B, thành phố Hà Nội, H đã bán cho H2 2,692 gam ma túy loại Ketamine;1,765 gam ma tuý loại MDMA; 3,996 gam ma tuý loại Ketamine và ma tuý loại MDMA với giá 9.500.000 đồng, hưởng lợi 700.000 đồng.

Ngoài ra, khoảng 20 giờ 00 phút ngày 17/12/2025, tại tầng 2 nhà số H ngõ H phố B, phường B, Lê Thị Thu H còn có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn T.

Bùi Thế A có hành vi sử dụng nơi ở của mình tại tầng 2 nhà số H ngõ H B, phường B, thành phố Hà Nội, chứa chấp cho Lê Thị Thu H sử dụng trái phép chất ma tuý.

Các bị cáo Lê Thị Thu H, Bùi Duy H2, Bùi Thế A, Nguyễn Văn T có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy:

Hành vi trực tiếp bán trái phép 0,542 gam ma tuý loại Methamphetamine cho Nguyễn Văn T và bán 2,692 gam ma túy loại Ketamine; 1,765 gam ma tuý loại MDMA; 3,996 gam ma tuý loại Ketamine và ma tuý loại MDMA cho Bùi Duy H2 nhằm hưởng lợi bất chính và hành vi sử dụng nơi ở của mình, cung cấp dụng cụ và ma túy cho Nguyễn Văn T sử dụng của bị cáo Lê Thị Thu H trong khi bị cáo có tiền án tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Điểm b,p,q khoản 2, Điều 251 và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điểm h khoản 2, Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Hành vi biết người khác là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng làm ngơ, không ngăn cản vẫn cho họ sử dụng chỗ ở của mình để họ trực tiếp sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Bùi Thế A trong khi bị cáo có tiền án tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên đã đủ yếu tố cấu thành tội Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 256 Bộ luật Hình sự.

Hành vi giấu giữ trái phép 0,542 gam ma tuý loại Methamphetamine mục đich để sử dụng của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điểm c khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của Bùi Duy H2: giấu giữ trái phép 2,692 gam ma túy loại Ketamine; 1,765 gam ma tuý loại MDMA; 3,996 gam ma tuý loại Ketamine và ma tuý loại MDMA mục đích để sử dụng cho bản thân; Bị cáo H2 không thuộc đối tượng được trang bị vũ khí quân dụng theo quy định của pháp, không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền, bị cáo H2 biết được việc tàng trữ vũ khí quân dụng là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý cất giấu 01 khẩu súng ổ quay tự chế trong người, khi bị các đồng chí công an phường V đang làm nhiệm vụ kiểm tra bị cáo H2 đã rút súng để trong túi cầm tay thì bị các đồng chí công an khống chế. Như vậy, hành vi chủ động thò tay vào túi xách lấy súng ra phản ánh rõ ràng về mặt ý thức chủ quan H2 muốn dùng vũ khí để đe dọa, uy hiếp tinh thần lực lượng công an để trốn tránh việc kiểm tra, cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ.Nhân thân của bị cáo H2 đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trong chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý nên đã đủ yếu tố cấu thành tội Chống người thi hành công vụ quy định tại điểm đ khoản 2, Điều 330 Bộ luật Hình sự và Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm n,o Khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng theo điểm h Khoản 2 Điều 304 Bộ luật Hình sự;

Các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Hà Nội truy tố theo tội danh và điều luật trên là hoàn toàn đúng pháp luật.

.Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm, tiếp tay cho các tệ nạn buôn bán ma túy ngày càng phát triển. Hạnh vi của bị cáo Bùi Duy H2 đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với vũ khí quân dụng và phương tiện kỹ thuật quân sự và đe dọa trực tiếp đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công. Các bị cáo H, H2, Thế A, T biết ma túy thuộc danh mục quản lý độc quyền của nhà nước, biết được tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích kiếm lợi bất chính, thỏa mãn sự nghiện ngập của bản thân;

Vì vậy cần phải xử phạt các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và để đảm bảo công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.

Xét nhân thân các bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Văn T nhân thân chưa có tiền án tiền sự.

Bị cáo Lê Thị Thu H nhân thân rất xấu: Từ năm 1990 đến 2016 bị cáo bị xét xử 04 lần về các hành vi Giết người, Cố ý gây thương tích, Mua bán, Tàng trữ trái phép chất ma túy. Trong đó các bản án năm 1995, 1998, 2001, 2016 đều chưa được xóa án tích.

Bị cáo Bùi Duy H2 nhân thân có 01 tiền án năm 2010 bị xét xử về tội Giết người, Cố ý gây thương tích, Cướp tài sản, Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành cho 4 tội là 24 năm tù, chưa được xóa án tích.

Bị cáo Bùi Thế A nhân thân rất xấu: Từ năm 1997 đến 2016 bị cáo bị xét xử 03 lần về các hành vi Tổ chức đánh bạc, Mua bán, Tàng trữ trái phép chất ma túy và đều chưa được xóa án tích.

Các bị cáo H, Thế A, H2 phạm tội lần này đều thuộc trường hợp định khung tăng nặng hình phạt “tái phạm nguy hiểm „.

Điều này chứng tỏ các bị cáo đều đã bị xét xử về loại tội ma túy, được giáo dục và cải tạo nhưng không chịu thay đổi mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài để bị cáo phải cải tạo tại trại giam và tuân thủ các quy định nghiêm khắc của trại về học tập, lao động, sinh hoạt mới đảm bảo hiệu quả của tính răn đe và giáo dục đối với các bị cáo.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét: bị cáo T nhân thân chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu; Các bị cáo khai báo thành khẩn hành vi phạm tội, thái độ tỏ ra ăn năn hối cải, nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

. Hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định.Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249; khoản 5 Điều 251; khoản 5 Điều 255, Khoản 3 Điều 256 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

* Đối với khối lượng ma túy các bị cáo mua bán, tàng trữ trái phép, các vật dụng công cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy thu giữ của bị cáo Lê Thị Thu H, Bùi Duy H2, Nguyễn Văn T đã được niêm phong trong:

+ 01 (một) phong bì còn nguyên vẹn niêm phong được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên, đối tượng Bùi Duy H2 bên trong ma túy thu giữ của H2 cùng 01 (một) cân điện tử màu đen, kích thước khoảng 7,5cm x 12cm.

+ 01 (một) phong bì còn nguyên vẹn niêm phong được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên, đối tượng Lê Thị Thu H bên trong có ma tuy thu giữ của H cùng 01 (một) đĩa sứ màu trắng, kích thước khoảng 25x25cm, bên trên mặt đĩa có chứa tinh thể màu trắng, được thu giữ vào trong 01(một) túi nilon kích thước khoảng 9x6cm cùng 01 thẻ nhựa màu đen kích thước khoảng 9x6cm; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2000 đồng; 01 (một) bộ tẩu hút tự tạo; 01 (một) bật lửa khò hình trụ tròn dài khoảng 16,5cm.

+ 01 (một) phong bì còn nguyên vẹn niêm phong được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên đối tượng Nguyễn Văn T bên trong có ma tuý thu giữ của T;

Cần tịch thu tiêu hủy.

* Đối với súng ổ quay tự chế thuộc vũ khí quân dụng và 09 viên đạn thuộc đạn quân dụng hiện đang được lưu giữ tại Kho vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra -Công an thành phố H cần tịch thu và Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố H phối hợp với Bộ Tư lệnh Thủ đô tiến hành các thủ tục giao nhận, quản lý và xử lý số vũ khí quân dụng, đạn quân dụng nêu trên theo đúng quy định của pháp luật.

* Đối với 01 chiếc túi cầm tay màu đen, kích thước 16,5x24cm, gắn logo LV bằng kim loại màu vàng dùng để đựng ma túy thu giữ của bị cáo Bùi Duy H2 đã cũ không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

* Đối với điện thoại thu giữ của Lê Thị Thu H, Bùi Duy H2, Nguyễn Văn T, Bùi Thế A bao gồm:

+ 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 11 Promax màu ghi, số imei 1: 35383210434349435, số imei 2: 353832104462071 thu giữ của Bùi Duy H2;

+ 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax màu đen, số imeil: 357879432901102, số imei 2: 357879433058944, (kiểm tra có nội dung tin nhắn zalo trao đổi mua ma túy với H) thu giữ của Bùi Duy H2.

+ 01 điện thoại kiểu dáng Samsung Galaxy A12 màu trắng, số imei 1: 357026898999317, số imei 2: 357412788999312 thu giữ của Lê Thị Thu H;

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax màu xanh, imei 1: 3548608997994561, imei2: 354860897762323, thu giữ của Nguyễn Văn T.

đều là phương tiện các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

*Đối với:

+ 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS Max màu vàng, dung lượng 256Gb, số imei: 353100103693249, số imei2: 353100103711736, thu giữ của Lê Thị Thu H;

+ 01 điện thoại di động kiểu dáng Oppo A71 màu vàng, dung lượng 16Gb, số imei I: 868499036247257, sô imei 2: 868499036247240, thu giữ của Lê Thị Thu H;

+ 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy A15 màu vàng, số imei 1: 357301900671281, số imei 2: 357371920671280, thu giữ của Lê Thị Thu H;

+ 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Samsung M54, số imeil: 353065221038595, số imei2: 356731581038593, thu giữ của Bùi Thế A;

Là tài sản riêng của các bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho các bị cáo.

* Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen, đỏ không có biển kiểm soát, SK: RLHJK0380SY131420, SM: JK03E-1583991 là tài sản riêng của bị cáo Bùi Duy H2 mua nhưng chưa đi đăng ký xe, sử dụng để làm phương tiện đi lại hằng ngày nên trả lại cho bị cáo Bùi Duy H2.

* Đối với số tiền 600.000 đồng Lê Thị Thu H hưởng lợi bất chính từ việc bán ma túy trái phép cho H2 và T cần buộc H phải truy nộp để sung ngân sách nhà nước.

.Về các vấn đề khác:

Các đồng chí Vũ Tuấn A1, Trần Trung H4, Hoàng Thiện T1, Lê Khắc B, Nguyễn Anh T2 thuộc tổ công tác công an phường V đang trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát địa bàn phường V trong quá trình khống chế Bùi Duy H2 không bị thương tích gì và không có yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với người đàn ông tên là A C người Trung Quốc, ở cửa khẩu M2 - Quảng Ninh đã bán 01 khẩu súng cho Bùi Duy H2, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch của người này do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Đối với người đàn ông tên T4 bán ma túy cho Lê Thị Thu H quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch của người này do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Tiến hành xét nghiệm ma túy đối với Bùi Duy H2, Lê Thị Thu H, Nguyễn Văn T, Bùi Thế A, Lê Thanh T3, kết quả: Dương tính. Qua xác minh, H2, H, T, Thế A, T3 không thuộc diện đang trong thời hạn điều trị cai nghiện hay quản lý sau cai của Cơ sở cai nghiện và chính quyền địa phương nơi cư trú.

Quá trình điều tra xác định Lê Thanh T3 là bạn, đến nhà H chơi, không biết H cất dấu ma túy. Lê Thanh T3 đã sử dụng ma túy trước khi đến nhà H chơi. Công an phường V đã ra Quyết định xữ phạt vi phạm hành chính đối với Lê Thanh T3.

Tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lê Thị Thu H tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b,p,q khoản 2, Điều 251 Bộ luật Hình sự và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố Bùi Duy H2 tội Chống người thi hành công vụ quy định tại điểm đ khoản 2, Điều 330 Bộ luật Hình sự và Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm n,o Khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng theo điểm h Khoản 2 Điều 304 Bộ luật Hình sự; truy tố Bùi Thế A tội Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 256 Bộ luật Hình sự; truy tố Nguyễn Văn T tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điểm c khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự và các điều luật quy định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đề xuất mức án đối với các bị cáo và biện pháp tư pháp là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 Mục 1 Danh mục án phí lệ phí Tòa án.

.Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

[1].Căn cứ: Điểm b,p,q khoản 2, Điều 251; điểm h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt:

- Lê Thị Thu H 10( M1) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và 07( B1) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy;

Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 17( Mười bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2025.

*Căn cứ: Điểm đ khoản 2, Điều 330; điểm n,o Khoản 2 Điều 249 và điểm h Khoản 2 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt:

- Bùi Duy H2 từ 02( H6) năm tù về tội Chống người thi hành công vụ 06( S1) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 05 ( Năm) năm tù về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.

Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả ba tội là 13(Mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/12/2025.

* Căn cứ: Điểm đ, khoản 2, Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt:

- Bùi Thế A 07 ( B1) năm tù về tội Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2025.

* Căn cứ: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt:

- Nguyễn Văn T 03( Ba) năm 06( Sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/12/2025.

* Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.

[3].Căn cứ: - Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.

- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Biện pháp tư pháp:

*Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 chiếc túi cầm tay màu đen, kích thước 16,5x24cm, gắn logo LV bằng kim loại màu vàng của Bùi Duy H2.

+ 01 (một) phong bì còn nguyên vẹn niêm phong được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên- Nguyễn Hoàng H5, cán bộ công an phường V- Trần Trung H4, đối tượng Bùi Duy H2 bên trong có chứa ma túy phần còn lại sau khi Phòng PC09 thu mẫu và 01 cân điện tử màu đen kích thước khoảng 7,5x12 cm (theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định lập ngày 18/12/2025 tại trụ sở công an phường V-thành phố Hà Nội; Bản kết luận giám định số 9147/KL - KTHS ngày 27/12/2025 của Phòng K1 - Công an thành phố H).

+ 01 (một) phong bì còn nguyên vẹn niêm phong được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên- Nguyễn Hoàng H5, cán bộ công an phường V- C, đối tượng Lê Thị Thu H bên trong có chứa ma túy phần còn lại sau khi Phòng PC09 thu mẫu, 01 (một) đĩa sứ màu trắng kích thước khoảng 25x25cm, 01 thẻ nhựa màu đen kích thước khoảng 9x6 cm, 01 bộ tẩu thuốc tự tạo và 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng (theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định lập ngày 18/12/2025 tại trụ sở công an phường V- thành phố Hà Nội; Bản kết luận giám định số 9146/KL - KTHS ngày 27/12/2025 của Phòng K1 - Công an thành phố H).

+ 01 bật lửa khò hình trụ tròn dài khoảng 16,5 cm thu giữ của Lê Thị Thu H.

+ 01 (một) phong bì còn nguyên vẹn niêm phong được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên- Nguyễn Hoàng H5, cán bộ công an phường V- Trần Minh Đ3, đối tượng Nguyễn Văn T bên trong có chứa ma túy phần còn lại sau khi Phòng PC09 thu mẫu (theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định lập ngày 18/12/2025 tại trụ sở công an phường V - thành phố Hà Nội; Bản kết luận giám định số 9134/KL - KTHS ngày 27/12/2025 của Phòng K1 - Công an thành phố H).

* Tịch thu sung ngân sách nhà nước:

+ 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 11 Promax màu ghi, vỡ màn hình và mặt kính lưng, số imei 1: 353832104349435, số imei 2: 353832104462071 của Bùi Duy H2 (điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động)

+ 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax màu đen, số imeil: 357879432901102, số imei 2: 357879433058944 của Bùi Duy H2 (điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động).

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax màu xanh, imei 1: 354860897994561, imei2: 354860897762323 của Nguyễn Văn T (điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động).

+ 01 điện thoại kiểu dáng Samsung Galaxy A12 màu trắng, số imei 1: 357026898999317, số imei 2: 357412788999312 của Lê Thị Thu H (điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động)

* Trả lại cho bị cáo Lê Thị Thu H:

+ 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS Max màu vàng, dung lượng 256Gb, số imei: 353100103693249, số imei2: 353100103711736 của Lê Thị Thu H (điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động)

+ 01 điện thoại di động kiểu dáng Oppo A71 màu vàng, dung lượng 16Gb, số imei 1: 868499036247257, sô imei 2: 868499036247240 của Lê Thị Thu H (điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động)

+ 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy A15 màu vàng, số imei 1: 357301900671281, số imei 2: 357371920671280 của Lê Thị Thu H (điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động)

* Trả lại cho bị cáo Bùi Thế A:

+ 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Samsung M54, số imei1: 353065221038595, số imei2: 356731581038593 của Bùi Thế A (điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động)

* Trả lại cho bị cáo Bùi Duy H2: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu đen đỏ, không có biển kiểm soát, số khung: RLHJK0380SY131420, số máy: JK03E-1583991 thu giữ của Bùi Duy H2 (theo Thông báo kết quả tra cứu xe máy vật chứng ngày 03/03/2026 của Phòng K1- công an T; Bản kết luận giám định số 3652/KL-KTHS ngày 23/04/2026 của Phòng K1 - công an thành phố H là xe máy không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng, có số khung: RLHJK0380SY131420, số máy: JK03E-1583991 là số nguyên thủy) Tình trạng xe máy: cũ, đã qua sử dụng, không gương chiếu hậu, nhiều chỗ trầy xước, hoen gỉ.

(Toàn bộ vật chứng trên được lưu giữ tại kho vật chứng Theo biên bản bàn giao vật chứng số: NK2026/KV3-392 GN/THA-CA ngày 27/05/2026 tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3- thành phố Hà Nội).

* Tịch thu: 01 (một) phong bì còn nguyên vẹn niêm phong được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên, đối tượng Bùi Duy H2 bên trong có 01 (một) đồ vật hình dạng súng ngắn ổ quay có 06 lỗ lắp đạn, tay cầm có logo hình tròn nhãn hiệu HD GUES GRIP có chiều dài khoảng 12cm có tay cầm bọc nhựa màu đen, bên trong ổ quay có 01 viên đạn không có dấu vết kim hỏa, ở phần đáy có ký hiệu chữ C, có vỏ và đầu đạn bằng kim loại hình trụ tròn dài 2,5cm và 08(tám) viên đạn không có dấu vết kim hoa, ở phần đáy có ký hiệu chữ C, có vỏ và đầu đạn bằng kim loại hình trụ tròn dài 2,5 cm. ( Hiện đang lưu giữ tại Kho vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố H).

Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố H phối hợp với Bộ Tư lệnh Thủ đô tiến hành các thủ tục giao nhận, quản lý và xử lý số vũ khí quân dụng, đạn quân dụng nêu trên theo đúng quy định của pháp luật.

* Truy thu và sung ngân sách nhà nước số tiền 600.000 đồng hưởng lợi bất chính của bị cáo Lê Thị Thu H.

[4]. Án phí: Mỗi bị cáo Lê Thị Thu H, Bùi Duy H2, Bùi Thế A, Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5].Quyền kháng cáo: Các bị cáo Lê Thị Thu H, Bùi Duy H2, Bùi Thế A, Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo nội dung liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ