- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn D cùng đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Tống Văn Đ, Nguyễn Quang T và Lê Mạnh C1 phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 331/2023/HS-ST Ngày: 25-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Công
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Ngô Thị Dịu;
2. Ông Trịnh Văn Lực.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 333/2023/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 468/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Tuấn D, sinh năm 1974 tại tỉnh Bắc Giang; thường trú: Số D khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Tuấn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1952; bị cáo có 02 anh em ruột, lớn sinh năm 1972, nhỏ sinh năm 1984; bị cáo có vợ tên Mai Thị H, sinh năm 1977, có 02 con ruột, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/7/2023 đến ngày 06/7/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
2. Tống Văn Đ, sinh năm 1981 tại tỉnh Bắc Giang; thường trú: Số A khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Tống Văn Đ1, sinh năm 1947 và bà Tống Thị M, sinh năm 1955; bị cáo có 03 anh chị ruột, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1979; bị cáo có vợ tên Tống Thị N, sinh năm 1987, có 02 con ruột, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 04/4/2014 bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 116/2014/HSST, đóng án phí ngày 05/01/2016; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/7/2023 đến ngày 06/7/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
3. Nguyễn Quang T, sinh năm 1984 tại tỉnh Thái Nguyên; thường trú: Thôn T, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; chỗ ở: Khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Tiến L1, sinh năm 1942 và bà Đỗ Thị D1, sinh năm 1940; bị cáo có 02 anh chị ruột, lớn sinh năm 1966, nhỏ sinh năm 1977; bị cáo có vợ tên Ôn Thị T1, sinh năm 1985, có 02 con ruột, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/7/2023 đến ngày 06/7/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
4. Lê Mạnh C1, sinh năm 1979 tại tỉnh Phú Thọ; thường trú: Số G đường L, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lê Hữu T2, sinh năm 1938 và bà Chu Thị T3, sinh năm 1942; bị cáo có 08 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1964, nhỏ nhất sinh năm 1984; bị cáo có vợ tên Đinh Thị O, sinh năm 1980, có 02 con ruột, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn S; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Tuấn D, Nguyễn Quang T, Tống Văn Đ và Lê Mạnh C1 là bạn bè quen biết nhau. Khoảng 11 giờ ngày 01/7/2023, Nguyễn Quang T, Tống Văn Đ đến nhà không số đường V, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương của Nguyễn Tuấn D để chơi. Tại đây, T, Đ và D rủ nhau đánh bài phỏm thắng thua bằng tiền thì tất cả đồng ý và rủ nhau lên phòng ngủ trên lầu 1 để chơi bài. Cách thức chơi như sau: Bộ bài được chia làm 04 tụ, người chia bài được 10 lá bài, 03 tụ còn lại có 09 lá bài, người chia bài được đánh trước 01 lá cho người kế bên (theo chiều kim đồng hồ) để người này bốc lá bài đó hoặc bốc một lá bài khác trong xấp bài còn dư để ở giữa sòng nhằm mục đích tạo thành phỏm (phỏm là 03 lá bài trở lên cùng số hoặc sảnh 03 lá trở lên cùng nước) và tiếp tục đánh 01 lá cho người kế bên tiếp theo, người ngồi kế bên thao tác tương tự vòng quanh cho đến khi hết xấp bài ở giữa sòng thì bỏ bài ra để so sánh, các điểm trong phỏm không tính mà tính điểm các lá bài không tạo phỏm được, ít điểm nhất sẽ về tới nhất, ít điểm nhì sẽ về tới nhì, ít điểm thứ 3 sẽ về thứ 3 (thua nhì), nhiều điểm nhất là thứ 4 (thua nhất). Ai thắng nhất được người tới nhì chung 100.000 đồng, được người thứ 3 (thua nhì) chung 200.000 đồng, được người thứ tư chung 300.000 đồng. Trường hợp có người có 03 phỏm (tức là ù) thì được mỗi người còn lại chung 400.000 đồng, nếu người không có phỏm nào (cháy) thì chung cho người về nhất 300.000 đồng.
Cả nhóm chơi bài thắng thua bằng tiền được khoảng 30 phút, Lê Mạnh C1 đến nhà của D chơi thì nhìn thấy T, Đ và D đang đánh bài thắng thua bằng tiền nên cùng vào tham gia chơi. Lúc này, D có việc nên không tham gia chơi, C1 tham gia chơi thắng thua bằng tiền với T và Đ. Sau đó, khoảng 30 phút C1 có việc cá nhân nên ra về, T, Đ và D tiếp tục chơi. Đến 15 giờ 15 phút cùng ngày, T, Đ và D bị Đ2 Công an thành phố D phát hiện bắt quả tang.
* Vật chứng thu giữ gồm: 02 (hai) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, thu giữ trên chiếu bạc 4.900.000 đồng và trong người những người đánh bạc 5.500.000 đồng.
Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, cụ thể như sau:
1. Nguyễn Tuấn D là chủ nhà, sử dụng địa điểm nơi ở của mình để đánh bạc và sử dụng 6.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình chơi thua 1.500.000 đồng, khi bị bắt thu giữ tại chiếu bạc 2.600.000 đồng và trong người 1.900.000 đồng.
2. Nguyễn Quang T mang theo và sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình chơi thắng 700.000 đồng, khi bị bắt thu giữ tại chiếu bạc 2.100.000 đồng và trong người 600.000 đồng.
3. Tống Văn Đ mang theo và sử dụng số tiền 2.000.000 đồng, quá trình chơi thắng 1.200.000 đồng, khi bị bắt thu giữ tại chiếu bạc 200.000 đồng và trong người 3.000.000 đồng.
4. Lê Mạnh C1 mang theo và sử dụng 1.100.000 đồng để đánh bạc, quá trình chơi thua 400.000 đồng nên còn lại 700.000 đồng thì nghỉ ra về do có việc. Đến ngày 08/7/2023, Lê Mạnh C1 đến C2 đầu thú hành vi phạm tội của mình.
Tổng số tiền các bị cáo Đ, T và C1 sử dụng để đánh bạc là 5.100.000 đồng và tổng số tiền các bị cáo Đ, T và D là 10.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 340/CT-VKS-DA ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn D, Tống Văn Đ, Nguyễn Quang T và Lê Mạnh C1 bị truy tố về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Tống Văn Đ với mức hình phạt từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn D với mức hình phạt 09 đến 12 tháng tù và Nguyễn Quang T với mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Lê Mạnh C1 với mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
* Về xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền 11.100.000 đồng, là số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Đối với 02 (hai) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, mức hình phạt, về xử lý vật chứng đồng thời trong lời nói sau cùng các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ vào lời khai của các bị cáo; người làm chứng; biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú và các chứng cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 11 giờ đến 15 giờ 30 phút ngày 01/7/2023 tại nhà không số đường V, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương của Nguyễn Tuấn D. Các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Tống Văn Đ, Nguyễn Quang T và Lê Mạnh C1 thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi bài phỏm thắng thua bằng tiền với số tiền các bị cáo Đ, T và C1 sử dụng để đánh bạc là 5.100.000 đồng và tổng số tiền các bị cáo Đ, T và D là 10.000.000 đồng.
Như vậy, hành vi của các bị cáo đánh bạc hình thức chơi bài phỏm thua bằng tiền với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc lần lượt là 5.100.000 đồng và 10.000.000 đồng, đã đủ yếu tố cấu thành về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 340/CT-VKS-DA ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do do các bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng, nhưng đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được đánh bạc dưới mọi hình thức ăn thua bằng tiền nhằm sát phạt lẫn nhau đều vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Trong vụ án có tính chất đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội nên không xem là phạm tội có tổ chức.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Nguyễn Quang T và Lê Mạnh C1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Lê Mạnh C1 sau khi phạm tội đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Nguyễn Quang T, Lê Mạnh C1 là người chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo Tống Văn Đ đã từng bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản đã được xóa án tích. Các bị cáo người lao động và hiện đang nuôi con nhỏ nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
Về hình phạt:
+ Hình phạt chính:
- Xét bị cáo Tống Văn Đ phạm tội ít nghiêm trọng, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội đồng thời bị cáo Đ đã từng bị Tòa án xét xử về tội Trộm cắp tài sản, hành vi phạm tội của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung. Đồng thời để đảm bảo cho việc thi hành án nên cần áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 207/2022/HSST- ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với bị cáo.
- Xét các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Nguyễn Quang T, Lê Mạnh C1 phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt và người lao động, hơn nữa thời gian tạm giữ cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Do áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo nên cần hủy các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 206, 208, 209/2023/HSST-LCĐKNCT ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với các bị cáo.
+ Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo Đ; các bị cáo còn lại do áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với các bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. [10] Về xử lý vật chứng:
- Xét số tiền 11.100.000 đồng, là số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Xét 02 (hai) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Còn mức hình phạt, xét nhân thân, vai trò cũng như số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên Hội đồng xét xử quyết định hình phạt nhẹ hơn Viện kiểm sát đề nghị.
Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Tống Văn Đ, Nguyễn Quang T và Lê Mạnh C1 phạm tội “Đánh bạc”.
1.1 Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn D 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng. 1.2 Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt Lê Mạnh C1 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng. 1.3 Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Tống Văn Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 01/7/2023 đến ngày 06/7/2023.
1.4 Áp dụng Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tiếp tục Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 207/2023/HSST-LCĐKNCT ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với bị cáo Tống Văn Đ.
- Hủy các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 206, 208, 209/2023/HSST-LCĐKNCT ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Nguyễn Quang T và Lê Mạnh C1. 2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu sung vào Ngân sách số tiền 11.100.000 (mười một triệu một trăm nghìn) đồng, theo Lệnh thanh toán ngày 14/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bộ bài tây 52 lá.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/9/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Tống Văn Đ, Nguyễn Quang T và Lê Mạnh C1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA