vanban.org

Bản án 331/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/07/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Tuyết Nhung (Nguyễn Hồng

Xác định toàn bộ căn nhà đất tại địa chỉ số 289, Ấp Chiến Lược, khu phố 2, Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Tuyết Nhung (Nguyễn Hồng
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 331/2023/DS-ST
Ngày: 27/7/2023
V/v: “tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Việt Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Khanh;

2. Bà Bùi Diệu Huệ.

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Kim Cương là Thư ký Tòa án nhân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thu Thương Thương – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 277/2022/TLST-DS ngày 20 tháng 10 năm 2022 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 207/2023/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 6 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 186/2023/QĐST-DS ngày 29 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng T M C P S G T T;

Địa chỉ: số xx đường N, Phường e, Quận x, Thành phố H.

Đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Đ T D, chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Phạm T T, sinh năm 19rr (có đơn xin vắng mặt).

2. Bị đơn: bà Nguyễn T M P, sinh năm: 19rr (vắng mặt);

Địa chỉ: số ww Đường số vv, khu phố rr, phường B, quận B, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện ủy quyền của nguyên đơn ông T trình bày:

Ngày 22/02/2018, bà Nguyễn T M P và Ngân hàng T M C P S G T T ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 100.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2.6%/tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 605.189.875 đồng.

Quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến nay bà P đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 533.064.551 đồng, số tiền này được thanh toán áp dụng theo Điều 20 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Số tiền còn lại Ngân hàng có nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà P vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Bà P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngày 01/02/2020, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 102.202.091 đồng là nợ gốc sang nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).

Tính đến ngày xét xử ngày 27/7/2023, bà P còn nợ các khoản sau (chi tiết lãi quá hạn, dư nợ trong sao kê tóm tắt đính kèm):

- Nợ gốc: 102.202.091 đồng.

- Lãi quá hạn: 169.134.599 đồng.

Tổng cộng: 271.336.690 đồng. Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 102.202.091 đồng với lãi suất quá hạn là 3.9%/tháng = 2.6%/tháng x 150% từ ngày ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại.

Tại Tòa, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Nguyễn T M P phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín tổng số tiền (gồm cả gốc và lãi) tính đến ngày 27/7/2023 gồm nợ gốc: 102.202.091 đồng, lãi quá hạn: 169.134.599 đồng đồng. Tổng cộng: 271.336.690 đồng. Ngoài ra, bà Nguyễn T M P có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày 28/7/2023 đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

* Bị đơn là bà Nguyễn T M P: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án, vắng mặt không rõ lý do và không có văn bản ghi nhận ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi cho Tòa án.

* Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn có đơn xin được vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu. Bị đơn bà Nguyễn T M P vẫn vắng mặt không có lý do.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu ý kiến và kết luận: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Toà án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về thẩm quyền, thủ tục. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung: Do bà Nguyễn T M P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên căn cứ vào bảng điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, Ngân hàng yêu cầu bà P thanh toán số dư nợ còn thiếu là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức Tín dụng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và công bố các yêu cầu và tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn có đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn; bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, nên căn cứ Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 22/02/2018 thì bà Nguyễn T M P cung cấp địa chỉ tại số ww Đường số vv, khu phố rr, phường B, quận B, Thành phố H. Tuy nhiên, theo kết quả xác minh của Công an phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân thì bà Nguyễn T M P không thực tế cư trú tại nhà địa chỉ số ww Đường số vv, khu phố rr, phường B, quận B, Thành phố H. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: Bị đơn không còn cư trú tại địa chỉ ghi trong Hợp đồng nhưng không thông báo nơi cư trú mới cho người khởi kiện xem như bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ những quy định trên, Hội đồng xét xử xác định địa chỉ bị đơn tại số ww Đường số vv, khu phố rr, phường B, quận B, Thành phố H để Tòa án tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, căn cứ theo khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đại diện nguyên đơn là phù hợp. Bị đơn bà Nguyễn T M P đã được Toà án tống đạt hợp lệ, nhưng vẫn không có mặt để tham dự phiên toà. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ, đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung vụ án:

Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự thì hai bên có ký kết hợp đồng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bảng Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng). Việc ký kết hợp đồng này có nội dung, hình thức phù hợp đúng với quy định, lãi suất thỏa thuận giữa hai bên theo hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện phù hợp pháp luật.

Xét thấy, đến ngày 01/02/2020 Ngân hàng T M C P S G T T đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ đối với bà Nguyễn T M P và chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 102.202.091 đồng nợ gốc sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 27/7/2023 bà Nguyễn T M P còn nợ Ngân hàng tổng cộng là 271.336.690 đồng (nợ gốc 102.202.091 đồng, lãi quá hạn 169.134.599 đồng). Do đó theo hợp đồng thẻ tín dụng, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Nguyễn T M P trả hết số nợ vốn và lãi tổng cộng là 271.336.690 đồng cho Ngân hàng T M C P S G T T ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, bà P có trách nhiệm tiếp tục trả lãi phát sinh theo thỏa thuận đã ký kết với Ngân hàng.

Bị đơn bà Nguyễn T M P mặc dù đã được Tòa án triệu tập cũng như tống đạt hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có bất cứ ý kiến gì phản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do đó bà P đã từ bỏ quyền phản đối của mình theo khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của nguyên đơn, việc đề nghị này của đại diện Viện kiểm sát là đúng với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí:

- Bà Nguyễn T M P chịu án phí theo quy định của pháp luật. Cụ thể như sau: 13.566.835 đồng (Mười ba triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn tám trăm ba mươi lăm đồng).

- Hoàn lại cho Ngân hàng T M C P S G T T số tiền 5.667.368 đồng (năm triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn ba trăm sáu mươi tám đồng) tạm ứng án phí mà Ngân hàng T M C P S G T T đã nộp theo biên lai thu số 09760 ngày 19/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 91, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và 3 Điều 228, Điều 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức Tín dụng;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T M C P S G T T đối với bà Nguyễn T M P.

Buộc bà Nguyễn T M P có trách nhiệm trả cho Ngân hàng T M C P S G T T tổng số tiền vốn và lãi theo hợp đồng của thẻ tín dụng là 271.336.690 đồng (hai trăm bảy mươi mốt triệu, ba trăm ba mươi sáu nghìn, sáu trăm chín chục đồng). Trong đó, tiền nợ gốc là 102.202.091 đồng và tiền nợ lãi là 169.134.599 đồng.

Bà Nguyễn T M P còn phải thanh toán cho Ngân hàng T M C P S G T T tiền lãi phát sinh từ ngày 28/7/2023 trên dư nợ gốc theo mức lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đã ký, bảng Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng T M C P S G T T cho đến khi bà P thanh toán hết nợ.

2. Về án phí:

- Bà Nguyễn T M P chịu án phí dân sự sơ thẩm là 13.566.835 đồng (Mười ba triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn tám trăm ba mươi lăm đồng).

- Hoàn lại cho Ngân hàng T M C P S G T T số tiền 5.667.368 đồng (năm triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn ba trăm sáu mươi tám đồng) tạm ứng án phí mà Ngân hàng T M C P S G T T đã nộp theo biên lai thu số 09760 ngày 19/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quyết định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ