- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Tiến D - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Tiến D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| HTOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 331/2017/HSST Ngày: 29-9-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Định
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trịnh Thị Kim Cúc
2. Ông Lê Quang Bảo
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Thủy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên
Hôm nay ngày 29 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 320/2017/HSST ngày 15 tháng 9 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 320/2017/QĐXXHS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2017, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Tiến D - sinh năm 1970.
Nơi sinh: thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
Nơi cư trú: Tổ 4 khu M, phường H, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp.
Dân tộc: Kinh
Quốc tịch: Việt Nam.
Tôn giáo: Không
Văn hóa: 7/10
Con ông: Trần Ngọc C - sinh năm 1932.
Con bà: Trần Thị N - sinh năm 1937.
Gia đình có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu.
Vợ: Trần Thị H - sinh năm 1978.
Có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2000.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 15-3-2005 bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 25-01-2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tài sản chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14-7-2017, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 23-7-2017 cho đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố Nam Định.
(bị cáo Trần Tiến D có mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 13-7-2017, tổ công tác Công an phường N, thành phố Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 4 khu M, phường H, thành phố Nam Định phát hiện Trần Tiến D đi bộ một mình có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra. D đã lấy từ trong túi quần bên trái của D ra 02 gói ni-lon màu hồng bên trong là gói giấy màu trắng chứa chất bột dạng cục màu trắng (D khai là 02 gói Heroine) thả xuống đất. Tổ công tác đã kịp thời thu giữ, niêm phong vật chứng rồi đưa D cùng người làm chứng về tru ̣ sở Công an phường lâ ̣p biên bản bắt ngườ i có hành vi pha ̣m pháp quả tang theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nam Đi ̣nh đa trưng cẫ
̀u giám định vâ ̣t chứng thu giữ. Tại bản kết luâ ̣n giám đi ̣nh số 617/GĐKTHS ngày 17-7-2017 của Phòng ky thuâ ̣̃
t hinh sự - Công an tỉnh Nam Đi ̣nh kết luâ ̣n: Mẫu
̀
chất bột dạng cục màu trắng thu giữ là chất ma túy, loại chất ma túy là Heroine, có trọng lượng 0,153 gam (không phẩy một năm ba gam).
Ta ̣i cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Trần Tiến D khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng đồng thời D khai nhận về nguồn gốc gói ma túy như sau: Khoảng 18 giờ ngày 13-7-2017 D đi bộ một mình từ nhà đến khu vực đường C, thành phố Nam Định mua của một người đàn ông không rõ lai lịch 02 gói ma túy với giá 200.000 đồng rồi đi bộ về nhà để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.
Đối với đối tượng đã bán gói ma túy cho D, tài liệu Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên đã tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau.
Bản cáo trạng số 337/QĐ-KSĐT ngày 15-9-2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Trần Tiến D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trần Tiến D tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Tiến D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội khóa 14; khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999: xử phạt bị cáo Trần Tiến D từ 21 tháng tù đến 24 tháng tù; Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ.
Bị cáo Trần Tiến D nói lời sau cùng: Xin Hội đồng giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Tiến D không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Tiến D phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 13-7-2017, Trần Tiến D đa cõ ́ hành vi tàng trữ trái phép 0,153 gam Heroine mu ̣c đich để sử
́ du ̣ng thi bi ̣ bắt quả tang ta ̣i khu vực tổ 4 khu M, phường H, thành phố Nam
̀ Định. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện nên bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về các tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện tội phạm, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Trần Tiến D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngoài ra, căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội khóa 14 quy định áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) theo hướng có lợi cho người phạm tội, Hội đồng xét xử sẽ vận dụng quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét thấy bị cáo đã 02 lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, mặc dù đã được xóa án tích nhưng cho thấy bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu, bản thân bị cáo không lấy đó làm bài học để ăn năn hối cải mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện bản chất coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt nghiêm khắc nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Trần Tiến D tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy đã thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Trần Tiến D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1999 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Trần Tiến D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội khóa 14.
- Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Xử phạt bị cáo Trần Tiến D 24 tháng tù (hai mươi bốn tháng tù). Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 14-7-2017.
2. Xử lý vật chứng:
- Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự và Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ. (Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07-9-2017).
3. Án phí:
- Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016.
Bị cáo Trần Tiến D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo Trần Tiến D được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND TP. Na*m Định (02 bản); - Công an TP. Nam Định; - Chi cục THADS TP. Nam Định; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; VP. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Phạm Thị Thu Định |