vanban.org

Bản án 330/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 29/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Quách Văn Ngọc L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo: Quách Văn Ngọc L: 7 (bảy) năm 3 (ba) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang là ngày 01/10/2018. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số: 330 ngày 29/11/2018 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Lu…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Quách Văn Ngọc L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------------------
Bản án số: 330/2018 /HSST
Ngày: 29.11.2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Tú

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Vũ Vương

2. Ông Vũ Mạnh Huề

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai – Cán bộ Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng – Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 29.11. 2018, tại trụ sở Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 332/2018/HSST ngày 20.11.2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 344/2018/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Quách Văn Ngọc L - Sinh năm: 1996, HKTT: Thôn C, xã C, huyện T, thành phố H. Nơi ở: lang thang. Nghề nghiệp: Lao động tự do, Trình độ văn hoá: 10/12, Con ông: Quách Văn M, con bà: Quách Thị H. Tiền án, tiền sự: không. Danh chỉ bản số: 440 lập ngày 03/10/2018 do Công an quận Hai Bà Trưng cung cấp. Bắt quả tang ngày 01/10/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố Hà Nội.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :

1. Bà Quách Thị H, sinh năm 1974

HKTT và trú tại : Thôn C, xã C, huyện T, thành phố H.

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15h ngày 01/10/2018, Quách Văn Ngọc L nhận được điện thoại của một người phụ nữ L không quen biết hỏi mua 15 viên thuốc lắc, 2 chỉ ketamine. L đồng ý bán và thoả thuận giá 500.000 đồng/01 viên thuốc lắc, 5.000.000 đồng/01 chỉ Ketamine, tổng số tiền là 17.500.000 đồng và hẹn giao ma tuý tại khu vực trước cửa số 113 Lê Thanh Nghị, Hai Bà Trưng, Hà Nội. Sau đó, L đi xe máy SH BKS 29X7-44914 đến khu vực trước cửa số 197 Nguyễn An Ninh, gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 15 viên thuốc lắc và 02 chỉ Ketamine với giá 16.000.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, L cất vào túi quần bên phải phía trước đang mặc và đi đến điểm giao ma túy. Khoảng 17h cùng ngày, khi L đang đứng khu vực trước cửa số 113 Lê Thanh Nghị, phường Đồng Tâm, Hai Bà Trưng, Hà Nội để chờ giao ma tuý thì bị Tổ công tác công an phường Đồng Tâm, Hai Bà Trưng, Hà Nội kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra L tự giác giao nộp cho cơ quan công an 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 05cm x 04cm bên trong gồm 01 viên nén màu nâu hình tròn có in hình ngôi sao, 01 viên nén màu xanh hình giọt nước và 13 viên nén hình tròn màu vàng có in hình vương miện cùng với 02 túi nilon màu trắng mỗi túi có kích thước khoảng 03cm x 02cm bên trong mỗi túi có chứa các hạt tinh thể màu trắng (L tự khai là ma tuý tổng hợp L đang mang đi bán). Tổ công tác đã lập biên bản bắt quả tang đưa L về trụ sở công an để giải quyết.

Ngoài ra, Cơ quan công an còn tạm giữ của L: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng; 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH BKS 29X7 – 44914; Số tiền 2.000.000 đồng.

Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Hai Bà Trưng đã ra Quyết định trưng cầu giám định số ma túy đã thu giữ của Quách Văn Ngọc L. Tại bản kết luận giám định số 8033/KLGĐ-PC 09 ngày 9/10/2018 của phòng KTHS - Công an thành phố Hà Nội kết luận:

- Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon đều là ma tuý loại Ketamine, tổng khối lượng 2,574 gam ;

- 01 viên nén hình tròn màu nâu lô gô hình ngôi sao là ma tuý loại MDMA, khối lượng 0,301 gam ;

- 01 viên nén màu xanh hình giọt nước là ma tuý loại MDMA, khối lượng 0,391 gam;

- 13 viên nén màu vàng lô gô hình vương miện đều là ma tuý loại MDMA, khối lượng 5,253 gam

Quá trình điều tra, L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy, L không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Đối với tài sản thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng; 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH BKS 29X7 – 44914. Quá trình điều tra xác định, L sử dụng điện thoại để liên lạc mua bán ma túy. Xe máy là của mẹ L là Quách Thị H, L chỉ đứng tên đăng ký xe hộ mẹ; Số tiền 2.000.000 đồng là tiền của L tích cóp mà có.

Đối với người phụ nữ sử dụng điện thoại di động số 0835786861 hỏi mua ma túy của L vào ngày 01/10/2018, L không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Hai Bà Trưng đã tách tài liệu liên quan để tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Tại Bản cáo trạng số 316/CT/VKS-HS ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng đã truy tố bị cáo Quách Văn Ngọc L về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan công an, công nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Ngoài ra bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho mẹ bị cáo nhận lại chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH BKS 29X7 – 44914 vì bị cáo chỉ đứng tên đăng ký xe máy hộ mẹ do mẹ bị ốm không thể đi đăng ký được. Mẹ bị cáo không biết gì về việc bị cáo sử dụng chiếc xe máy trên đi mua ma túy.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Quách Thị H đề nghị Hội đồng xét xử cho xin lại chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH BKS 29X7 – 44914. Chiếc xe máy trên là của bà, L không có công sức đóng góp và không bỏ tiền mua chiếc xe trên. Việc bà H đưa tiền cho L đi mua xe và đăng ký xe là để bà có phương tiện nhờ L chở bà đi khám chữa bệnh tại bệnh viện phụ sản Hà Nội vì do lúc đó bà bị ốm và đang điều trị bệnh u nang buồng trứng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Quách Văn Ngọc L như tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đánh giá mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm p khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Quách Văn Ngọc L với mức án từ 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng đến 8 (tám) năm tù. Về hình phạt bổ sung, phạt tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử: tịch thu tiêu hủy 2,574 gam ma túy loại ketamine; Tịch thu tiêu hủy ma tuý loại MDMA có khối lượng 5,945 gam; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng do liên quan đến hành vi phạm tội; Trả lại cho bị cáo số tiền 2.000.000 đồng thu giữ của bị cáo vì không liên quan đến hành vi phạm tội; Trả lại xe máy nhãn hiệu Honda SH BKS 29X7 – 44914 cho bà Quách Thị H vì không liên quan đến hành vi phạm tội.

Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP. Hà Nội và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15h ngày 01/10/2018, tại khu vực khu vực trước cửa số 113 Lê Thanh Nghị, phường Đồng Tâm, Hai Bà Trưng, Hà Nội, Quách Văn Ngọc L đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,574 gam ma tuý Ketamine; 5,945 gam ma tuý MDMA với mục đích để bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo Quách Văn Ngọc L đã phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung tăng nặng “Có 2 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ h đến 0 khoản này”, tội danh và hình phạt quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng truy tố bị cáo Quách Văn Ngọc L theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ đúng pháp luật.

“Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07

năm

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm

đến 15 năm:

a)...

…

p) Có 2 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó

tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong

các điểm từ h đến 0 khoản này””

Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm an ninh trật tự an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện làm huỷ hoại sức khoẻ con người, làm sói mòn đạo đức xã hội, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay cho những kẻ mua bán ma tuý và ma tuý cũng là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội.

Xét nhân thân của bị cáo Quách Văn Ngọc L chưa có tiền án, tiền sự lần đầu bị truy tố xét xử. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do vậy Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 (Năm triệu) đồng đến 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng. Tuy nhiên, xét bị cáo Quách Văn Ngọc L không có nghề nghiệp, không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì giấy đã được niêm phong bên trong có 02 túi nilon chứa 2,574 gam ma tuý loại Ketamine, 01 viên nén hình tròn màu nâu lô gô hình ngôi sao khối lượng 0,301 gam là ma tuý loại MDMA, 01 viên nén màu xanh hình giọt nước khối lượng 0,391 gam là ma tuý loại MDMA, 13 viên nén màu vàng lô gô hình vương miện khối lượng 5,253 gam là ma tuý loại MDMA, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo Quách Văn Ngọc L.

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng đã qua sử dụng vì liên quan đến hành vi phạm tội.

+ Trả cho bị cáo số tiền 2.000.000 đồng thu giữ của bị cáo L vì không liên quan đến hành vi phạm tội.

+ Trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH BKS 29X7 – 44914 có số khung: 097732 , số máy: 0097711 cho bà Quách Thị Hằng vì không liên quan đến hành vi phạm tội.

+ Đối với người đàn ông đã bán ma túy, L không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Đối với người phụ nữ sử dụng điện thoại di động số 0835786861 hỏi mua ma túy của L vào ngày 01/10/2018, L không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Hai Bà Trưng đã tách tài liệu liên quan để tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ những nhận định trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Quách Văn Ngọc L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo: Quách Văn Ngọc L: 7 (bảy) năm 3 (ba) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang là ngày 01/10/2018.

2. Về xử lý vật chứng:

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì giấy đã được niêm phong bên trong có 02 túi nilon chứa 2,574 gam ma tuý loại Ketamine, 01 viên nén hình tròn màu nâu lô gô hình ngôi sao khối lượng 0,301 gam là ma tuý loại MDMA, 01 viên nén màu xanh hình giọt nước khối lượng 0,391 gam là ma tuý loại MDMA, 13 viên nén màu vàng lô gô hình vương miện khối lượng 5,253 gam là ma tuý loại MDMA, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo Quách Văn Ngọc L.

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng đã qua sử dụng.

+ Trả cho bị cáo số tiền 2.000.000 đồng thu giữ của bị cáo L.

+ Trả lại xe máy nhãn hiệu Honda SH BKS 29X7 – 44914 có số khung: 097732 và số máy: 097711 cho bà Quách Thị Hằng.

Các tang vật trên hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng - Thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 14/11/2018 (TV: 54/19) giữa Công an quận Hai Bà Trưng và Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng. Và giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 14/11/2018.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Quách Văn Ngọc L phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ