- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "DSPT Nguyễn Thị G - Nguyễn Văn P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kh ng c o của chị Nguyễn Thị G. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm s 01/2023/DSST ngày 12/01/2023 của Toà n nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Th i Nguyên.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 163 Bộ luật Dân sự; Điều 166 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản n s : 33/2023/DSPT Ngày: 03 - 7 - 2023 V/ v Tranh chấp l i đi. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phương
Các thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Thuỷ
Bà Nguyễn Minh Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Th i Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Lê ngọc Kim Loan - Kiểm s t viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 28 tháng 6 năm 2023 và ngày 03 tháng 7 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa n nhân dân tỉnh Th i Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ n thụ lý s 15/2023/TLPT-DS ngày 16 tháng 3 năm 2023 về “Tranh chấp l i đi”.
Do bản án dân sự sơ thẩm s 01/2023/DS-ST ngày 12 tháng 01 năm 2023 của Tòa n nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Th i Nguyên bị kh ng c o.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s 26/2023/QĐ - PT ngày 16 tháng 5 năm 2023, giữa c c đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1988. Có mặt.
Trú tại xóm Hòa Bình 2, xã Thanh Ninh, huyện Phú Bình, tỉnh Th i Nguyên
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1963. Có mặt.
Trú tại xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Th i Nguyên.
Người bảo vệ quyền và lợi ích cho chị G: Bà Hoàng Thị H, Văn phòng L1, đoàn Luật sư tỉnh T. Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964; (Vợ ông P). Có mặt.
Trú tại: Xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Th i Nguyên.
3.2. Anh Hà Văn T, sinh năm 1983( Anh T ủy quyền cho chị G).
Trú tại: Xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Th i Nguyên. Có mặt.
4. Người làm chứng:
4.1. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1973.
Trú tại: A đường A ấp A, xã V, huyện B, thành ph Hồ Chí Minh. Có mặt ngày 28/6/2023, vắng mặt ngày 03/7/2023.
4.2. UBND xã T, huyện P, tỉnh Th i Nguyên
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Hồng T1, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Th i Nguyên. Vắng mặt.
5. Người kháng cáo: Chị Nguyễn Thị G là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm, nguyên đơn chị Nguyễn Thị G trình bày: Năm 2014 gia đình chị nhận chuyển nhượng thửa đất s 1471 diện tích 300m đất ở, thửa 1471a diện tích 546m đất vườn, thửa 500 diện tích 280m đất thủy sản, của ông Nguyễn Văn C thuộc xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Đi vào các thửa đất trên có đường ngõ đi từ đường liên xóm vào đất chị mua của ông C. Sau khi nhận chuyển nhượng, chị đã làm thủ tục sang tên và được Ủy ban nhân dân huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s vào sổ CH 03125 ngày 23/01/2015. Sau khi nhận chuyển nhượng đến cu i năm 2014, gia đình chị đã chuyển về ở trên mảnh đất này, thửa đất chị mua của ông cửu nằm phía bên trong đất của ông Nguyễn Văn P (anh trai ruột ông C), khi mua và chuyển về gia đình chị vẫn đi chung con đường (ngõ) ra trục đường chính của xóm.
Quá trình mua đất ông C có chỉ thực địa đường đi, ranh giới cho gia đình chị và có nói với chị: Trước có con đường đi cũ là đường đi chính vào nhà ông C, nhưng ông P và ông C th ng nhất chuyển đường sang phía Đ, còn đường đi cũ để cho ông Phan x công trình phụ, nên đường đi của gia đình chị và gia đình ông Phan đ chung, đi thẳng rộng 3 mét, ngoài ra không có con đường nào khác. Chị x c định gia đình chị đi bằng con đường thẳng này từ năm 2014 đến năm 2017, đến tháng 02/2017, ông P, bà L không cho chị đi con đường đó nữa, ông nói “ Đường nhà tao, tao cho mày đi đâu thì được đấy, đi hay không là quyền của tao, mua nhà là không có đường đi, b n nhà chứ không b n đường, thằng Cửu phải đi nhờ qua đất nhà tao”, sự việc sảy ra, chị đã gọi điện cho ông C thì ông C trả lời: “Gia đình cháu cứ đi đường thẳng, nhà ông P không có quyền phá cổng của gia đình cháu, đi hay không là quyền của gia đình cháu, ông P phải trả đường cho gia đình ch u chứ gia đình ch u không phải xin”. Sau khi ông P không cho gia đình chị đi con đường chung, ông đã xây một hàng gạch cay ra giữa đường và xếp gạch cay chặn ngang đường không cho gia đình chị đi và từ đó đến nay gia đình chị không có l i đi, phải đi nhờ qua nhà b mẹ đẻ, nên chị đã làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa n nhân dân huyện Phú Bình xem xét, giải quyết buộc gia đình ông Phan p th o dỡ công trình phụ, bếp trả lại con đường đi cũ đã được thể hiện trên bản đồ địa chính của xã T để gia đình chị sớm có đường đi lại.
Bị đơn ông Nguyễn Văn P, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L khai: Ông cha ông để lại cho anh em ông hai phần đất của ông và em ông là Nguyễn Văn C. Để thuận tiện cho việc chăn nuôi, công trình phụ của gia đình ông bà được xây dựng từ năm 1986, trên l i đi cũ đất nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông bà; năm 2001, em trai ông mới xây dựng nhà và đi qua nhờ đất nhà ông bà; năm 2015 em trai ông có b n đất cho chị G, trong quá trình làm thủ tục mua b n đất có trưởng thôn là ông Nguyễn Xuân N đứng ra làm chứng việc mua bán cho hai bên. Trong qu trình mua b n và c c giấy tờ liên quan, nội dung chỉ mua đất mua nhà, không có nội dung l i đi và đi ở hướng nào. Sau khi hai bên mua b n xong, gia đình ông bà có tạo điều kiện lấp ao ke bờ trên đất nhà ông bà, để mở l i đi cho nhà chị G. Năm 2019, chị G không chịu đi l i đi đó mà đòi đi giữa đất của nhà ông bà. Thực tế con đường đi mà gia đình ông bà tạo ra cho chị G, nằm trong diện tích đất của gia đình ông bà, sau đó chị G vẫn đòi đi chung cổng với gia đình ông bà, mà không đi l i đi của gia đình ông tạo ra; chị G không đồng ý đi con đường mà gia đình ông bà đã cho, nên làm đơn kiện gia đình ông bà lên Ủy ban nhân dân xã T, huyện P để đòi đi chung cổng với nhà ông bà; c c cấp chính quyền từ xóm, tới xã về giải quyết và hòa giải nhiều lần nhưng chị G không nhất trí, mà vẫn tiếp tục đòi đi giữa đất nhà ông là con đường hiện tại ông đang đi.
Người làm chứng ông Nguyễn Văn C có bản tự khai: Vợ chồng ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị L là anh trai, chị dâu của ông. Khoảng cu i năm 2014, vợ chồng ông chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng chị G, anh T. Khi làm hợp đồng thì vợ chồng ông từ trong miền nam bay về Th i Nguyên, làm hợp đồng với ông Nguyễn Văn T2 (cha ruột của chị G), thực tế khi ký hợp đồng không có mặt chị G và anh T, trên hợp đồng ghi tên chị G, anh T. Sau đó thì ông với ông T2 đem hợp đồng ra Ủy ban nhân dân xã T, huyện P chứng thực. Trong hợp đồng không có ghi rõ diện tích hai bên thỏa thuận chuyển nhượng là bao nhiêu, chỉ ghi s thửa. Khi thỏa thuận hai bên không có thỏa thuận với nhau về con đường đi vào khu đất. Trên hợp đồng chỉ thỏa thuận với nhau về bán phần đất chứ không có thỏa thuận về đường đi. Đồng thời, phía ông T2 cũng không có trao đổi với ông về đường đi vào phần đất. Tuy nhiên, ông có trao đổi với ông Phan l “Em b n đất rồi, quyền của anh chị cho đi đâu thì người mua đi ở đó”. Khi đó ông P trả lời rằng “Để tao lấp cái ao rồi chừa đường đi cho người ta”. Trước khi chuyển nhượng đất thì gia đình ông đi nhờ qua đất của nhà ông P, ông P cho l i đi nào thì gia đình ông đi l i đó, chứ không có c định. Ông và ông P không có thỏa thuận về việc đổi đất hay đổi con đường, mà sau khi chuyển nhượng đất ông có nói với ông P là ông để lại phần đất phía sau nhà của ông P có chiều ngang 3m, chiều dài hết đất nhà ông P. Việc trao đổi và chỉ ranh giới đất b n cũng như phần để lại cho ông Phan n trên thì có sự chứng kiến của ông Nguyễn Văn T2, cùng ông Nguyễn Văn N1 là trưởng thôn. Khi ông làm hợp đồng chuyển nhượng có mặt của ông T2 và được UBND xã T, huyện P x c nhận, không có thể hiện con đường dân sinh nào cả. Còn việc Tòa n hỏi bản đồ thì ông không biết là bản đồ do cá nhân vẽ, hay bản đồ do nhà nước quản lý nên ông không thể trả lời câu hỏi này của Tòa n. Ông xác định là chỉ có đường xã hội (đường dân sinh) gần khu đất mà ông đã bán, mu n đi ra con đường này thì phải đi qua phần đất của nhà ông P. Nay giữa chị G và ông Phan tranh c l i đi thì ông chưa có yêu cầu gì, chỉ mong giữa hai bên hòa giải được với nhau. Còn nếu c c bên không hòa giải được với nhau thì ông sẽ đề nghị xem xét lại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông và chị G. Do ông đang ở xa nên không thể thường xuyên đến Tòa án khi Tòa Đề nghị Tòa n n triệu tập. Ông đề nghị Tòa n giải quyết vắng mặt ông trong su t qu trình giải quyết vụ n và xét xử tại Tòa n.
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/01/2022 thể hiện các l i đi trên bản đồ địa chính, con đường đi qua đất nhà ông P, cũng như con đường gia đình ông P để cho nhà chị G đi không còn nguyên hiện trạng, được xây dựng công trình phụ và trồng màu trên đất, con đường tranh chấp trên bản đồ F48 phía gia đình ông Phan x các công trình như: Chuồng lợn, nhà bếp lợp m i tôn xây dựng năm 2021.
Tại bản án dân sự sơ thẩm s 01/2023/DS-ST ngày 12/01/2023 của Tòa n nhân dân huyện Phú bình, tỉnh Th i Nguyên đã Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị G về việc tranh chấp quyền sử dụng đất là l i đi đ i với vợ chồng ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị L.
- Buộc ông P, bà L phải mở một l i đi cho gia đình chị G đi, cụ thể là l i đi được thể hiện tại c c điểm 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 7 có diện tích 101,5m2 (Có sơ đồ kèm theo).
- Buộc ông P, bà L phải dỡ 01 đoạn tường rào, xây bằng gạch đỏ rộng 4m x cao 1,5m để mở l i cho gia đình chị G đi ra con đường của xóm.
2. Chi phí t tụng: Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị L phải trả cho chị G s tiền 14.000.000đ mà chị đã nộp cho Tòa n để tiến hành đo đất, thẩm định và định giá.
3. Về án phí: Ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm vào ngân s ch Nhà nước. Hoàn trả cho chị G s tiền 750.000 đồng tạm ứng án phí, lệ phí tòa án đã nộp tại Chi cục Thi hành n dân sự huyện Phú Bình theo biên lai thu 0001147 ngày 04/5/2020.
Ngoài ra Bản n sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành n và quyền kh ng cáo của đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/01/2023 chị Nguyễn Thị G không nhất trí với phần quyết định của cấp sơ thẩm buộc chị G phải đi l i bờ ao của nhà ông Đ nên kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm. Đề nghị Tòa cấp phúc thẩm xem xét lại buộc ông Nguyễn Văn P phải trả lại l i đi cho chị G theo đúng như hợp đồng chuyển nhượng quyền sự dụng đất.
Tại phiên tòa phúc thẩm chị Nguyễn Thị G giữ nguyên nội dung kh ng c o.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho chị G bà Hoàng Thị H có ý kiến: Chị G và anh T có mua của đất của ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị A thửa đất s 1471, 1471a, 500 có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất, trong hợp đồng thể hiện rõ l i đi vào c c thửa đất trên có đường dân sinh rõ ràng, sau khi gia đình chị G mua và sử dụng ổn định từ năm 2014, đến năm 2017 (không có l i đi nào kh c), đến khi gia đình ông P không cho gia đình chị G đi nữa và mang gạch ra xây giữa đường và xếp gạch chặn đường không cho gia đình chị G đi qua. Qu trình Toà n cấp sơ thẩm xét xử đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị G, tuy nhiên buộc ông P, bà L mở một l i đi kh c cho gia đình chị G đi là không đúng với bản đồ 299, và F48; bản đồ địa chính. Nay đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kh ng c o của chị G, buộc ông Phan p tháo dỡ toàn bộ công trình phụ đã xây lấn sang l i đi để trả lại l i đi cho gia đình chị G.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ n đến trước khi nghị n đã thực hiện đúng c c quy định của Bộ luật t tụng dân sự. Về đường l i giải quyết vụ n, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật t tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Qu c hội quy định về án phí và lệ phí toà án. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn; sửa một phần bản n sơ thẩm s 01/2023/DS-ST ngày 12/01/2023 của Toà án nhân dân huyện Phú Bình. Về n phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ n được thẩm tra tại phiên toà, nghe lời trình bày của đương sự. Sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về t tụng: Đơn kh ng c o của Nguyễn Thị G làm trong hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng n phí được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
. Xét nội dung kh ng c o của chị Nguyễn Thị G, Hội đồng xét xử thấy: Nguồn g c thửa đất s 1471, 1471a, 500 tờ bản đồ s 06 do gia đình chị Nguyễn Thị G có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn C ngày 29/12/2014 được Ủy ban nhân dân xã T, huyện P chứng thực. Thửa đất của chị G nằm phía trong thửa đất s 606, tờ bản đồ s 6 của ông Nguyễn Văn P.
Tại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông C và gia đình chị G ngày 29/12/2014 thể hiện có l i đi, l i đi này cũng được bản đồ địa chính s 06 xã T (F48) thể hiện có con đường đi chạy dọc theo phía tây của thửa đất nhà ông Nguyễn Văn P đến đất nhà bà Nguyễn Thị G; khi mua bán đất, ông C có nói với vợ chồng chị G là giữa ông C và anh trai là ông Nguyễn Văn P đã thỏa thuận với nhau về việc đổi l i đi theo bản đồ địa chính, gia đình ông Phan m l i đi kh c để hai gia đình cùng đi chung, khi gia đình chị G chuyển về mảnh đất này ở, vẫn đi chung với gia đình ông P, đến năm 2017 thì ph t sinh mâu thuẫn, ông P không cho gia đình chị G đi chung l i đi này nữa; Ủy ban nhân dân xã T đã tiến hành hòa giải và hướng hai bên gia đình tự thỏa thuận, gia đình ông Phan m cho gia đình bà G một l i đi, tuy nhiên, sau khi hòa giải c c bên không th ng nhất thực hiện được nội dung thỏa thuận, chị G không nhất trí nên đã khởi kiện ra tòa n yêu cầu ông P phải khôi phục trả lại l i đi theo bản đồ địa chính.
Tại công văn s 1694/UBND-TNMT ngày 26/10/2022 về việc phúc đ p văn bản của Toà án nhân dân huyện Phú Bình như sau: Theo bản đồ địa chính s 06 xã T (F) có con đường đi chạy dọc theo phía tây của thửa đất nhà ông Nguyễn Văn P đến đất nhà bà Nguyễn Thị G; vị trí, ranh giới của con đường đi được thể hiện trên bản đồ địa chính (F48) và không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào khu đất ở của gia đình hộ ông Nguyễn Văn P; tại thời điểm hộ ông Nguyễn Văn P bắt đầu xây dựng công trình lên phần đất đang có tranh chấp l i đi với gia đình hộ bà Nguyễn Thị G thì không có bất kỳ sự phản nh nào của nhân dân và hộ ông P cũng không xin phép Ủy ban nhân dân xã T; năm 2001 khi gia đình ông P xây dựng nhà ở chính và sửa chữa c c công trình phụ (nằm trên phần đất đang tranh chấp l i đi với gia đình bà G) thì có đơn của nhân dân xóm H1 và Ủy ban nhân dân xã T đã tiến hành lập biên bản đề nghị tạm dừng xây dựng công trình phụ, nhưng hộ ông P không chấp hành ký biên bản (BL159);
Tại biên bản x c minh ngày 19/7/2020 của Toà n nhân dân huyện Phú Bình, c n bộ địa chính xã T cung cấp: Con đường đi được thể hiện trên bản đồ 299 đo vẽ năm 1985 và bản đồ địa chính đo vẽ năm 1993 (bản đồ F48), là đường dân sinh, con đường này không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ai, ông P không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đ i với diện tích đất này… Việc gia đình ông P xây dựng chuồng trại chăn nuôi là xây dựng trái phép, không xin phép theo đúng quy định (BL 66-67)
Theo bản trích đo hiện trạng sử dụng đất và qu trình xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/01/2022 cho thấy: Vị trí tranh chấp là con đường dân sinh được thể hiện trên bản đồ 299 đo vẽ năm 1985 và bản đồ địa chính đo vẽ năm 1993 (bản đồ F48). Hiện tại các l i đi trên bản đồ địa chính, con đường đi qua đất nhà ông P, cũng như con đường gia đình ông P để cho nhà chị G đi không còn nguyên hiện trạng, được xây dựng công trình phụ và trồng màu trên đất như: Chuồng lợn có chiều dài 18m, chiều rộng 5,5m; nhà bếp lợp m i tôn xây dựng năm 2021 có chiều rộng 6,5m, chiều dài 21,6m. Diện tích của con đường đang tranh chấp giữa chị G và ông P thể hiện theo bản đồ địa chính năm 1993 như: Diện tích đường đi = 163,9m2 (theo sơ đồ: 1,2,3,4,5,6,1), trong đó nằm vào nhà bếp 27,3m2; nằm vào nhà ngang 23,4m2; nằm vào chuồng trại 51,9m2; nằm vào nhà kho 7,4m2; nằm vào ô đất tr ng 4,2m2; 27,9m2; nằm vào thửa 603: 21,8m2 (BL 106a, 109).
[4.] Như vậy có đủ cơ sở x c định con đường đi vào thửa đất nhà chị G anh T được thể hiện trên bản đồ 299 đo vẽ năm 1985 và bản đồ địa chính đo vẽ năm 1993 (bản đồ F48), là đường dân sinh, con đường này không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông P. Ông P tự ý xây dựng công trình phụ (chuồng lợn trên đường dân sinh là l i di duy nhất vào nhà chị G và anh T không cho chị G sử dụng để làm l i đi vào đất của mình đã xâm phạm đến quyền lợi ích hợp ph p của gia đình chị G, nên cần buộc ông P, bà L phải thảo dỡ toàn bộ công trình phụ đã xây dựng trên đường đi nêu trên để trả lại nguyên hiện trạng đường đi theo bản đồ địa chính của xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Tòa n cấp sơ thẩm căn cứ các tài liệu do các bên cung cấp có trong hồ sơ và căn cứ kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, ý kiến của cơ quan quản lý đất đai, từ đó chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị G về việc buộc ông P, bà L phải mở một l i đi cho gia đình chị G đi, cụ thể là l i đi được thể hiện tại c c điểm 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 7 có diện tích 101,5m2 là không có căn cứ bởi lẽ: Đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị G yêu cầu Toà n buộc gia đình ông Nguyễn Văn P trả lại con đường đi dân sinh đã được Nhà nước công nhận, nay do gia đình ông P không chấp hành quy định pháp luật đã xây dựng công trình phụ trên con dường dân sinh dẫn đến chị G không có l i đi. Toà án cấp sơ thẩm buộc gia đình bị đơn phải mở l i đi kh c cho gia đình bị đơn là giải quyết không đúng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm cần sửa bản án dân sự sơ thẩm s 01/2023/DSST ngày 12/01/2023 của Toà n nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Th i Nguyên.
Về n phí phúc thẩm: Chị Nguyễn Thị G không phải chịu n phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho chị Nguyễn Thị G 300.000đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Hoàng Thị H có căn cứ chấp nhận.
Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa là có căn cứ.
Vì c c lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật t tụng dân sự; Điều 166; Điều 170; Điều 171 Luật đất đai; Điều 163, Điều 169, Điều 175; Điều 254 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Qu c hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng n phí, lệ phí Tòa n.Tuyên xử:
1. Chấp nhận kh ng c o của chị Nguyễn Thị G. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm s 01/2023/DSST ngày 12/01/2023 của Toà n nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Th i Nguyên.
2. Buộc ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị L có nghĩa vụ th o dỡ toàn bộ công trình đã xây dựng trên l i đi là đường dân sinh vào nhà chị G và anh T có diện tích 163,9m2, theo bản trích đo hiện trạng sử dụng đất tại vị trí 1,2,3,4,5,6,1; (về kích thước c c cạnh, chiều dài c c cạnh đã được mô tả trong bản trích đo hiện trạng sử dụng đất do Công ty TNHH H2 vẽ th ng 1 năm 2022) để trả lại đường dân sinh đi vào gia đình chị G và anh T sử dụng cụ thể như sau :
01 nhà bếp có diện tích 27,3m2 theo bản trích đo hiện trạng sử dụng đất tại vị trí: 22,23,24,25,26,27,22; 01 chuồng trại có diện tích 51,9m2 theo bản trích đo hiện trạng sử dụng đất tại vị trí 29,28,3,32,33,34,29; 01 nhà kho có diện tích 7,4m2 theo bản trích đo hiện trạng sử dụng đất tại vị trí 5,35,36,37,5; 01 nhà ngang có diện tích là 23,4m2 theo bản trích đo hiện trạng sử dụng đất tại vị trí 26,27,28,29,30,31,26; (Có sơ đồ kèm theo)
3. Án phí phúc thẩm: Chị Nguyễn Thị G không phải chịu n phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho chị G s tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu 0003101 ngày 30/02/2023 tại Chi cục Thi hành n dân sự huyện Phú, tỉnh Th i Nguyên.
4. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm s 01/2023/DS-ST ngày 12 tháng 01 năm 2023 của Tòa n nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Th i Nguyên có hiệu lực ph p luật, kể từ ngày hết thời hạn kh ng c o, kh ng nghị.
Bản n phúc thẩm có hiệu lực ph p luật kể từ ngày tuyên n.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Th i Nguyên; - TAND huyện Phú Bình; - THADS Huyện Phú Bình; - C c đương sự; - Lưu hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đ ký) Lê Thị Hồng Phương |