- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sồng A L - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sồng A L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2026/HS-ST Ngày 17-4-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - SƠN LA
Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ứng Văn Cường.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Văn Thân.
2. Bà Bàn Thị Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngoãn, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam Phù Yên:
Đại diện Viện kiểm sát khu vực 5 Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Cầm Thị Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.
Cán bộ chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ: Ông Quàng Văn Dũng và ông Lò Dân Quyền
Ngày 17 tháng 4 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La và điểm cầu thành phần: Phân trại tạm giam Phù Yên, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2026/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:
Sồng A L, sinh ngày 19/5/1996 tại xã S, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản L, xã S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Là đảng viên Đảng cộng sản Việt nam, ngày 06/01/2026, Uỷ ban kiểm tra Đảng ủy xã S, tỉnh Sơn La đã ra quyết định số 2a-QĐ/UBKTĐU về việc Đình chỉ sinh hoạt Đảng đối với Sồng A L, đảng viên Chi bộ bản S, Đảng bộ xã S, thời hạn 06 tháng kể từ ngày 04/01/2026 đến ngày 04/6/2026; con ông Sồng A D, sinh năm 1969; con bà: Vàng Thị D, sinh năm 1969; bị cáo có vợ là Mùa Thị D, sinh năm 1999 và 02 con (con lớn nhất 05 tuổi, con nhỏ nhất 02 tuổi); tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2025 đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13h 20 phút, ngày 30/12/2025, tổ công tác Công an xã S, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại tại khu vực bản L, xã S phát hiện Sồng A L, sinh năm 1996, trú tại bản L, xã S có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổ công tác đã yêu cầu Sồng A L nếu đang cất giấu vật cấm thì giao nộp. Sồng A L đã lấy từ trong miệng ra 01 túi nilon màu hồng bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine. L khai nhận chất bột màu trắng trên là ma tuý (Heroine), mục đích cất giấu để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ vật chứng nêu trên.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành mở niêm phong, cân tịnh khối lượng chất bột màu trắng nghi là Heroine thu giữ của Sồng A L có khối lượng là 0,186gam. Lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu L2.
Ngày 03/01/2026, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, có Kết luận giám định số: 170/KL-KTHS, kết luận:
“Mẫu ký hiệu L2 gửi giám định là ma tuý, loại Heroine (Heroin) có tên khoa học là Dicetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,186 gam.”. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Quá trình bắt quả tang, tổ công tác đã tiến hành test ma túy đối với L, kết quả dương tính (Loại ma túy sử dụng là MET, MOP). Tuy nhiên, qua xác minh xác định L không thuộc chủ thể quy định tại Điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự. Do đó, hành vi của L không cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, hành vi này của đã vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ, quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn cứu hộ, phòng chống bạo lực gia đình. Ngày 04/01/2026 Công an xã S đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 15/QĐ-XPHC đối với Sồng A L về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, mức phạt:“Cảnh cáo”.
Quá trình điều tra Sồng A L khai nhận:
Khoảng 10h sáng ngày 30/12/2025, do muốn có ma túy để sử dụng nên L đi bộ từ nhà ở bản L, xã S đến khu vực bản Trò, xã S để tìm mua ma túy. Tại đây, L gặp một người đàn ông mặc quần áo dân tộc Mông không quen biết, đứng ở đường. Qua trao đổi, L đã hỏi mua được với người đàn ông này 01 gói ma tuý (heroine) được gói bên ngoài bằng nilon màu hồng, hết số tiền 50.000 đồng. Mua được ma tuý, L đã cất giấu bằng hình thức ngậm gói ma túy vào trong miệng, rồi đi về nhà với mục đích để sử dụng. Đến khoảng 13h 20 phút cùng ngày, khi đi về đến cầu Suối Đá thuộc bản L, xã S thì bị tổ công tác Công an xã S, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.
Tại bản cáo trạng số 09a/CT-VKS-KV5 ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La, truy tố bị cáo Sồng A L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025 tuyên bố bị cáo Sồng A L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Sồng A L mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 01 (một) mảnh nilon màu hồng. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
Ý kiến của bị cáo Sồng A L trình bày: Bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi và trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Sơn La. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng đã thu giữ; biên bản mở niêm phong vật chứng, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định và lời khai của người chứng kiến sự việc.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Ngày 30/12/2025, Sồng A L đã có cất giấu 0,186 gam, loại Heroine để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025 có mức phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- Bị cáo mua và cất giấu trái phép 0,186 gam, loại Heroine để sử dụng cho bản thân, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương và ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hậu quả của hành vi, nhưng bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm với động cơ mục đích cá nhân.
- Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức còn nhiều hạn chế do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xét về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Xét về nhân thân bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Về hình phạt chính: Từ sự phân tích trên, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo. Đồng thời cấn cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương trong giai đoạn hiện nay.
Bị cáo đang bị tạm giam cần tiếp tục tạm giam theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025. Thời gian tạm giam được tính vào thời gian thụ hình.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Đối với số vật chứng gồm: 01 mảnh nilon màu hồng là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, vật chứng không còn giá trị sử dụng. Do đó, cần căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã trực tiếp bán ma túy cho bị cáo, HĐXX xét thấy hành vi mua bán đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải bị xử lý hình sự, nhưng quá trình điều tra không xác định được đối tượng nên không có căn cứ để xử lý ở vụ án này, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý ở vụ án khác.
Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025:
Tuyên bố bị cáo Sồng A L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Sồng A L 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2025 là ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 01 mảnh nilon màu hồng (vật chứng trên đã được niêm phong).
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 10 giờ 00 phút ngày 31/3/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an, tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – Sơn La).
3. Về Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sồng A L.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/4/2026). Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Sơn La;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Sơn La;
- VKSND khu vực 5 - Sơn La;
- Phòng THADS Khu vực 5 – Sơn La;
- Phòng HSNV Công an tỉnh Sơn La;
- Phân trại tạm giam Phù Yên;
- Trại tạm giam CA tỉnh Sơn La;
- Thi hành án hình sự;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án; VP.
Ứng Văn Cường THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ứng Văn Cường Đinh Công Ó
Bùi Duy Hưng
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND khu vực 5 - Sơn La; - Phòng THADS Khu vực 5 – Sơn La; - Phòng HSNV Công an tỉnh Sơn La; - Phân trại tạm giam Phù Yên; - Trại tạm giam CA tỉnh Sơn La; - Thi hành án hình sự; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ứng Văn Cường |