- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Ngọc L phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc L phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2026/HS-ST Ngày 30-01-2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Sơn.
Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Tuấn Anh và ông Nguyễn Bá Đoàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Chính - Thẩm tra viên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2026/TLST-HS ngày 13/01/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2026/QĐXXST-HS ngày 16/01/2026 đối với bị cáo:
Vũ Ngọc L, sinh năm 1994 tại Ninh Bình; số CCCD: 0350940019..; nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường Phủ Lý tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Trung C và bà Lê Thị P; có vợ là Hoàng Thị K, sinh năm 1988 và 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị bắt, tạm giữ ngày 25/8/2025, tạm giam từ ngày 03/9/2025 đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Thị P, sinh năm 1970; trú tại: Tổ dân phố B, phường Phủ Lý, tỉnh Ninh Bình; có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Đỗ Mạnh D, sinh năm 1963; vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1956; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 25/8/2025, Vũ Ngọc L sử dụng điện thoại di động truy cập vào ứng dụng Zalo rồi gọi đến tài khoản Zalo “Joker” của Tạ Văn L1, tức L1 “Tôm”, trú tại tổ dân phố Hồng Phú, phường Phủ Lý, tỉnh Ninh Bình hỏi mua ma túy, L nói: “Để cho em 50 viên”, hiểu ý L hỏi mua 50 viên ma túy ngựa, L1 nói: “Lấy thì lấy luôn hôm nay đi, mai anh bận, lấy thì chuyển khoản đi” thì L đồng ý. L sử dụng số tài khoản 101001889809 của L mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (Viettinbank) chuyển khoản số tiền 1.000.000đồng vào số tài khoản 0816310555 của L1 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB) mà L đã lưu trước đó. Sau khi L chuyển khoản, L1 hẹn L ra trước vỉa hè đường Quốc lộ 1A đoạn gần ngã tư có đèn giao thông đầu cầu Châu Sơn rồi chuẩn bị sẵn số ma túy bán cho L vào trong vỏ bao thuốc lá Sài Gòn màu bạc để trên vỉa hè. L điều khiển xe ôtô Mazda CX5, biển kiểm soát: 90A-394… đi từ nhà đến địa điểm lấy ma túy theo mô tả của L1, đến nơi L nhặt vỏ bao thuốc lá Sài Gòn có chứa ma túy bên trong L1 đã để sẵn trước đó giấu vào trong túi quần đang mặc rồi đi về. Về đến nhà, L đi vào trong phòng ngủ mở vỏ bao thuốc lá Sài Gòn lấy ra 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (10x6)cm, miệng túi có kẹp nhựa viền màu đỏ, bên trong có chứa các viên nén hình tròn màu đỏ. Biết đó là ma túy ngựa, L đổ ra đếm thấy đủ 50 viên như đã thỏa thuận mua bán với L1, L lấy 03 viên ma túy ngựa mua của L1 từ trước đó còn lại bỏ chung vào số ma túy ngựa 50 viên vừa mua của L, tổng cộng là 53 viên ma túy. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, trong lúc L mang số ma túy ra cất giấu trên xe ôtô biển kiểm soát: 90A-394… thì bị lực lượng Công an phường Phủ Lý, tỉnh Ninh Bình kiểm tra hành chính, phát hiện thấy L cất giấu ma túy nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng theo quy định.
Vật chứng thu giữ của vụ án gồm: 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng: (10x6)cm, miệng túi có kẹp nhựa viền màu đỏ bên trong có chứa 53 viên nén hình tròn màu đỏ niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO8, màu đen, lắp 01 thẻ Sim Viettel và 01 thẻ Sim Mobilphone niêm phong trong phong bì ký hiệu QR01; 01 xe ôtô nhãn hiệu Mazda CX5, màu sơn đỏ, biển kiểm soát: 90A-394… và 01 mẫu nước tiểu của Vũ Ngọc L.
Kết quả test nhanh mẫu nước tiểu Vũ Ngọc Lâm âm tính với các chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 720/KL-KTHS ngày 01/9/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 5,114 gam, loại: Methamphetamine”.
Tại Kết luận giám định số 1491/KL-KTHS ngày 21/11/2025 trả lời kết quả phục hồi, trích xuất dữ liệu trong điện thoại, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno8, màu đen, số IMEI1: 866876065962413, số IMEI2: 866876065962405 (Ký hiệu dữ liệu 1491), kết quả: Tìm thấy 05 mục nhật ký cuộc gọi và 05 mục tin nhắn”.
* Kết quả khai thác dữ liệu điện tử: Kiểm tra dữ liệu điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno8, màu đen, lắp 01 thẻ Sim Viettel và 01 thẻ Sim Mobilphone tạm giữ của Vũ Ngọc L không có nội dung nào liên quan đến hành vi phạm tội.
Bản Cáo trạng số 111/CT-VKS-KV5 ngày 09/01/2026 của Viện kiểm sát nhân khu vực 5 - Ninh Bình đã truy tố Vũ Ngọc L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với bị cáo Vũ Ngọc L, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 38, 47 và 50 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Hình phạt chính: Xử phạt Vũ Ngọc L từ 05 năm 06 tháng đến 05 năm 09 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Thị P trình bày, xác nhận Chiếc xe ôtô nhãn hiệu Mazda CX5, biển kiểm soát: 90A-394… vật chứng trong vụ án là tài sản hợp pháp của bà giao cho Vũ Ngọc L mượn để đi lại, quá trình điều tra bà đã được Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe ôtô cùng với đầy đủ giấy tờ của chiếc xe nên bà không có ý kiến, đề nghị gì.
Bị cáo Vũ Ngọc L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Ngọc L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ của vụ án được thẩm tra trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa như biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 25/8/2025, tại khu vực tổ dân phố B, phường Phủ Lý, tỉnh Ninh Bình, Vũ Ngọc L bị lực lượng Công an phường Phủ Lý, tỉnh Ninh Bình phát hiện, bắt giữ quả tang đang cất giấu trái phép 5,114 gam chất ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp“... Methamphetamine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Điều Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy ...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
g) ... Methamphetamine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam; ...”
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình truy tố đối với bị cáo Vũ Ngọc L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
4.1. Về nhân thân: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án, tiền sự.
4.2. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của Bộ luật Hình sự.
4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội đã thực hiện nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo…” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
5.1. Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện trực tiếp là các hoạt động cất giữ, tàng trữ chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn cho xã hội, làm nảy sinh tệ nạn ma túy là mầm mống, nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Bị cáo mặc dù lần đầu thực hiện hành vi phạm tội nhưng đã tàng trữ chất ma túy với khối lượng ma túy bị thu giữ lớn nên tính chất, mức độ của tội phạm là rất nghiêm trọng, do đó cần có hình phạt nghiêm minh, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo nghề nghiệp, thu nhập không ổn định; thực hiện hành vi phạm tội không vì mục đích vụ lợi, bất chính do đó không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung (như phạt tiền, tịch thu tài sản…) đối với bị cáo.
Về tình tiết khác của vụ án:
6.1. Đối với đối tượng Tạ Văn L1 (tên khác là L1 “Tôm”) theo Vũ Ngọc L khai là người đã bán trái phép chất ma túy cho bị cáo để cất giấu, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp xác minh, nhiều lần triệu tập L1 để làm việc nhưng L1 không có mặt tại nơi cư trú, mặt khác L khai chỉ quen biết L1 qua bạn bè giới thiệu, mua bán ma túy theo chỉ dẫn qua điện thoại, chưa gặp L1 trực tiếp nên không thể nhận dạng được L1. Ngoài lời khai của bị cáo ra thì không còn có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ người đã bán trái phép chất ma túy cho bị cáo, đồng thời làm rõ nguồn gốc số ma túy bị thu giữ để xem xét, xử lý theo quy định pháp luật là có cơ sở.
Về xử lý vật chứng đã thu giữ:
7.1. Đối với chiếc xe ôtô nhãn hiệu Mazda CX5, biển kiểm soát: 90A-394…, quá trình điều tra do xác định đó là tài sản hợp pháp của bà Lê Thị P (mẹ đẻ bị cáo) giao cho Vũ Ngọc L mượn để đi lại, bà P không biết việc bị cáo đã sử dụng chiếc xe làm phương tiện để thực hiện tội phạm nên Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho bà P chiếc xe ôtô là phù hợp.
7.2. Đối với chiếc điện thoai di động nhãn hiệu OPPO RENO8 (niêm phong trong phong bì ký hiệu QR01), quá trình điều tra đã xác định là tài sản hợp pháp của Vũ Ngọc L, được bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội nên tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
7.3. Đối với toàn bộ số Methamphetamine hoàn trả sau giám định cùng bao gói là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 38, 47, 50 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 329, 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí ban hành kèm theo.
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc L phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2025.
2. Xử lý vật chứng:
2.1. Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoai di động nhãn hiệu OPPO RENO8 được niêm phong trong phong bì số 1491/KTHS, mặt trước phong bì có ghi: “Mẫu vật hoàn trả QR01”, mặt sau có chữ ký và đóng dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình.
2.2. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong số 721/KTHS, mặt trước ghi:“Mẫu vật hoàn trả QT01”, mặt sau có chữ ký và đóng dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình.
Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình và Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 - Ninh Bình ngày 13/01/2026.
3. Án phí: Bị cáo Vũ Ngọc L nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND khu vực 5 - Ninh Bình; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Ninh Bình; - Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh Ninh Bình; - Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình; - Người có QL,NVLQ đến vụ án; - Bị cáo Vũ Ngọc L; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thanh Sơn |