vanban.org

Bản án 33/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Tòng Thanh T phạm tội: "Sử dụng trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Tòng Thanh T 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 20/10/2025. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo p…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tòng Thanh Toàn - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tòng Thanh T phạm tội: "Sử dụng trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 256a Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2026/HS-ST
Ngày 23/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lò Văn Dinh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Chương.

2. Bà Vì Thị Xôm.

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Công Hoàn – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2, Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Nông Quốc Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Điện Biên tiến hành mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2025/HSST ngày 03 tháng 12 năm 2025. Theo quyết định đưa vụ án xét xử số: 40/2026/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Tòng Thanh T (Không có tên gọi khác) - Sinh năm: 1982. Tại tỉnh Điện Biên.

Nơi cư trú: Bản P P, phường M T, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tòng Văn Nam và bà Lò Thị Kim.

Vợ: Cà Thị Phướng - Đã chết; Bị cáo có 01 con sinh năm 2003. Tiền án: Không. Tiền sự: Có 01 tiền sự, ngày 05/7/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng, ngày 05/3/2024 đã chấp hành xong, chưa được xóa tiền sự. Nhân thân: Ngày 14/5/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng, ngày 14/01/2020 đã chấp hành xong. Ngày 22/6/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 20 tháng, ngày 05/01/2022 đã chấp hành xong, đều đã được xóa tiền sự. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/10/2025 đến nay có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tòng Thanh T là người đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma tuý. Khoảng 15 giờ ngày 13/10/2025, Tòng Thanh T đi bộ từ nhà ở bản P P, phường M T, tỉnh Điện Biên đến khu vực đường thuộc bản Xôm, xã Thanh An, tỉnh Điện Biên mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, T gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Mua xong, T cầm gói Heroine đi bộ đến chân bờ kè sông Nậm Rốm thuộc địa phận bản P P, phường M T, tỉnh Điện Biên, rồi ngồi xuống lấy mảnh giấy bạc và bật lửa ga trong túi quần bên phải đang mặc, mở gói ma tuý lấy Heroine đặt lên mảnh giấy bạc, dùng bật lửa hơ đốt phía dưới mảnh giấy bạc và dùng mũi hít khoảng 7 đến 8 lần thì số Heroine tan hết. Sử dụng ma túy xong, T vứt mảnh nilon của gói Heroine, mảnh giấy bạc và bật lửa xuống sông rồi đi bộ về nhà.

Ngày 13/10/2025 Công an phường M T, tỉnh Điện Biên nhận được đơn tố giác của Tổ bảo vệ an ninh, trật tự cơ sở bản P P, phường M T, tỉnh Điện Biên về việc Tòng Thanh T có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 14/10/2025 Công an phường M T, tỉnh Điện Biên đã triệu tập T đến trụ sở Cơ quan Công an để làm việc và thu mẫu nước tiểu của Tòng Thanh T gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 1021/KL-KTHS ngày 17/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, kết luận: Tìm thấy sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Heroine là Morphine, Codeine, MAM6 trong mẫu nước tiểu thu của Tòng Thanh T gửi giám định.

Bị cáo khai số ma túy bị cáo sử dụng bị cáo mua được của 01 người đàn ông dân tộc thái không biết tên, địa chỉ nên không có cơ sở điều tra làm rõ.

Tại bản cáo trạng số: 21/CT-VKSKV2, ngày 01 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, Điện Biên đã truy tố T về tội: "Sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, Điện Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo T về cả tội danh và điều luật áp dụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Tòng Thanh T 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: Sử dụng trái phép chất ma túy.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, không có ý kiến gì thay đổi bổ sung, lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo Tòng Thanh T khai nhận T bộ hành vi của mình, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với, bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Ngày 13/10/2025, tại khu vực chân bờ kè sông Nậm Rốm thuộc bản P P, phường M T, tỉnh Điện Biên, bị cáo đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý loại Heroine, bị cáo sử dụng ma túy đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo quy định của Luật Phòng chống ma túy. Lời nhận tội của bị cáo hoàn T phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, Điện Biên theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Điều 256a Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:

b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy”

[2] Xét về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cho thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đều thừa nhận rằng khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức rõ sử dụng ma túy, gây tổn hại cho sức khỏe của con người cả về thể xác và tinh thần. Chính quyền địa phương cũng như trên thông tin đại chúng luôn tuyên truyền về tác hại của ma túy đối với cơ thể con người, cũng như chính sách của Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển, sử dụng trái phép chất ma túy. Nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiện hút của bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố tình thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình đã gây ra.

[3] Xét về nhân thân; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T sinh ra và lớn lên được bố mẹ nuôi dưỡng, đi học hết 9/12 sau đó nghỉ học ở nhà lao động sản xuất phụ giúp gia đình. Đến tuổi trưởng thành xây dựng gia đình riêng. Ngày 14/5/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng, ngày 14/01/2020 đã chấp hành xong. Ngày 22/6/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 20 tháng, ngày 05/01/2022 đã chấp hành xong, đều đã được xóa tiền sự. Ngày 05/7/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng, ngày 05/3/2024 đã chấp hành xong, chưa được xóa tiền sự. Như vậy bị cáo đã bị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính 03 lần, trong đó có 02 lần bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và một lần đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Sau khi chấp hành xong trở về địa phương lẽ ra bị cáo phải biết lấy đó làm bài học cho bản thân, lao động sản xuất tu chí làm ăn lương thiện, sống tuân thủ pháp luật, rèn luyện bản thân mới phải, nhưng bị cáo không làm được như vậy. Sau mỗi lần đi chấp hành áp dụng biện pháp xử lý hành chính trở về địa phương bị cáo lại tiếp tục lao vào con đường sử dụng, nghiện chất ma túy, để thỏa mãn cho nhu cầu bản thân bị cáo cố tình mua ma túy về sử dụng, bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy lâu năm, thường xuyên sử dụng ma túy, có nhân thân xấu. Do vậy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Như vậy đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp cần được xem xét chấp nhận. Từ những phân tích trên, khi quyết định hình phạt HĐXX cần xét, trong cuộc sống việc tuân thủ pháp luật, nhân thân, hành vi mà bị cáo đã thực hiện và ý kiến của bị cáo tại phiên tòa, như vậy cần thiết áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất mức độ bị cáo đã gây ra, để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về án phí: Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, do đó căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[5] Xét về hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, Điều tra viên, Kiểm sát viên, từ khi khởi tố vụ án, quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đảm bảo về hình thức, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; khoản 1 Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Tòng Thanh T phạm tội: "Sử dụng trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Tòng Thanh T 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 20/10/2025.

2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 23/01/2026.

Cỡ chữ