- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà N yêu cầu ly hôn với ông B"
- Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – LÂM ĐỒNG, TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2026/HNGĐ-ST Ngày: 07/4/2026 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, cấp dưỡng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quang và ông Lữ Duy Minh;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 15 – Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 – Lâm Đồng (Trụ sở chính), xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2026/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2026, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2026/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tú Ng, sinh năm: 2003 (Vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Thôn HT, xã T, tỉnh L.
- Bị đơn:
Ông Đinh Quốc B, sinh năm: 2002 (Vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Tổ dân phố HBT, phường L1, tỉnh L.
(Bà Ng, ông B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Ng trình bày: Bà và ông B đăng ký kết hôn năm 2024 tại Ủy ban nhân dân phường BT, thị xã L1 cũ. Trong quá trình chung sống, cả hai thường phát sinh mâu thuẫn, ông B không lo làm ăn chăm lo cho gia đình. Bà nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông B không sửa đổi. Từ tháng 05/2024 đến nay cả hai đã không còn sống chung với nhau. Hiện nay, bà nhận thấy cả hai không còn khả năng hàn gắn tình cảm, do đó bà yêu cầu được ly hôn với ông Bảo.
Về con chung: Bà và ông B có 01 con chung là Đinh Tuệ N, sinh ngày 31/01/2024. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Tại đơn khởi kiện bà yêu cầu ông B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000đ/tháng. Quá trình giải quyết, bà Ng rút yêu cầu khởi kiện buộc ông B cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Đinh Quốc B đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn trình bày ý kiến: Ông và bà Ng có nhiêu mâu thuẫn, đã không sống chung với nhau từ tháng 05/2024 cho đến nay, do đó, ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Ng. Về con chung: Ông và bà Ng có 01 con chung là Đinh Tuệ N, sinh ngày 31/01/2024. Thống nhất với yêu cầu của bà Ng về con chung, giao con chung cho bà Ng trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng thì đề nghị Toà án không xem xét giải quyết, thực tế ông sẽ chu cấp cho con tuỳ theo khả năng. Về tài sản chung, nợ chung: Các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 – Lâm Đồng:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật; Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về phiên tòa sơ thẩm; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự đã thực hiện đúng theo quy định.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ng, bà Nguyễn Đặng Tú Ng được ly hôn với ông Đinh Quốc B; Giao con chung cho bà Ng trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung không xem xét giải quyết. Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Bà Nguyễn Đặng Tú Ng khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Đinh Quốc B; Yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung; yêu cầu giải quyết vấn đề cấp dưỡng nên quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con; cấp dưỡng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025. [2] Bị đơn ông Đinh Quốc B có nơi cư trú tại Tổ dân phố HBT, phường L1, tỉnh L, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân theo quy định tại Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025;
Các đương sự đã được triệu tập hợp lệ và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025.
Bà Ng và ông B đăng ký kết hôn ngày 05/3/2024 tại UBND phường BT, thị xã L1 cũ trên cơ sở tự nguyện. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
Các đương sự thống nhất trình bày, trong quá trình chung sống của hai phát sinh nhiều mâu thuẫn, đã không sống chung với nhau từ tháng 05/2024 đến nay, điều này phù hợp với biên bản xác minh tại địa phương. Quá trình giải quyết, ông B và bà Ng cũng thống nhất ly hôn với nhau. Những căn cứ nêu trên thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Ng và ông B thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải chấp nhận cho bà Ng được ly hôn với ông B.
Về con chung: Ông B và bà Ng có 01 con chung là Đinh Tuệ N, sinh ngày 31/01/2024. Các đương sự thống nhất giao cho bà Ng trực tiếp nuôi dưỡng con chung, tại phiên toà, các đương sự không ai có văn bản thay đổi ý kiến nêu trên. Hơn nữa, thực tế hiện nay cháu N đang sống cùng bà Ng. Do đó, cần giao cho bà Ng trực tiếp nuôi dưỡng con chung để tránh làm xáo trộn cuộc sống và tâm sinh lý của cháu, đồng thời cũng đảm bảo sự ổn định về nơi sinh sống, học tập của con chung. Việc giao con chung cho bà Ng trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình và đảm bảo được sự phát triển mọi mặt của con chưa thành niên.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tại đơn khởi kiện, bà Ng yêu cầu ông B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000đ/tháng. Quá trình giải quyết, bà Ng rút yêu cầu khởi kiện về vấn đề cấp dưỡng, mặc dù đã được giải thích về quyền yêu cầu cấp dưỡng để đảm bảo chi phí nuôi dưỡng con chung và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, bà Ng vẫn xác định không yêu cầu ông B phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, việc rút yêu cầu của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn liên quan đến cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về án phí, nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025;
- Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Đặng Tú Ng đối với ông Đinh Quốc B về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, cấp dưỡng”. 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Đặng Tú Ng được ly hôn với ông Đinh Quốc B. 2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Đặng Tú Ng trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đinh Tuệ N, sinh ngày 31/01/2024. Ông Đinh Quốc B có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, các đương sự đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn theo quy định của pháp luật. 3. Về cấp dưỡng: Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện về cấp dưỡng. 4. Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không tranh chấp, nên không xem xét giải quyết. 5. Án phí: Bà Nguyễn Đặng Tú Ng phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 001107 ngày 15/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng. Bà Ng đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được hoặc niêm yết công khai bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng - VKSND Khu vực 15 – Lâm Đồng; - THADS tỉnh Lâm Đồng; - Các đương sự; - UBND nơi ĐKKH; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Trang THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Trang |