- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Nguyễn Thị Đ - Lê Thị N"
- Tòa quyết gì? Căn c khoản 1 Điều 308, Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2026/DS-PT Ngày: 13 - 01- 2026 V/v tranh chấp “Quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Hải.
Các Thẩm phán:Ông Trần Văn Đạt.
Ông Võ Ngọc Giàu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Hồng Chi, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Ông Bùi Văn Bình-Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 13 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 822/2025/TLPT-DS ngày 24 tháng 11 năm 2025 về tranh chấp “Quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 34/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực X, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1487/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1969.
Địa chỉ: Số A, đường L, tổ B, Khóm C, Phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (nay là 101, đường L, tổ B, Khóm H, Phường C, tỉnh Đồng Tháp).
2. Bị đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1963.
Địa chỉ: Số C, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Đại di n h p pháp: Ông Trần Thanh H, sinh năm 1963. Địa chỉ: Số A, đường A, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An (nay là 13/26, đường A, Phường L, tỉnh Tây Ninh); là đại di n theo ủy quyền.
3. Ng i có quyền l i, nghĩa vụ liên quan: Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Trụ sở: Số A, đường R, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
Đại di n đại di n theo ủy quyền:
- Ông Nguyễn Quang H1 - Trưởng Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 - Đồng Tháp
- Ông Nguyễn Trúc G - Chấp hành viên Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 - Đồng Tháp.
4. Ng i kháng cáo: Bị đơn bà Lê Thị N.
(Có mặt bà Đ, ông H; ông H1 và bà G xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm,
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày như sau:
Vào năm 2020, bà Đ có tham gia mua đấu giá đối v i quyền sử dụng đất của ông Lê Công T bị Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc kê biên bán đấu giá, bà Đ trúng đấu giá đối v i quyền sử dụng đất thửa 1309, di n tích 279,4m , đến ngày 07/6/2021 thì đư c cấp giấy ch ng nhận. Thi hành án đã bàn giao phần đất trúng đấu giá cho bà Đ xong.
Theo bà Đ xác định khi bàn giao tài sản thì trên thửa 1309 đã có 01 phần nhà v sinh của bà Lê Thị N là chị ruột ông Lê Công T (đư c thể hi n trên sơ đồ mô tả hi n trạng theo biên bản thẩm định ngày 23/6/2025). Thi hành án yêu cầu bà Đ cho bà N tạm sử dụng nhà v sinh, khi nào có nhu cầu thì bà N s tháo d trả lại m t b ng cho bà Đ và bà N c ng xác nhận s tháo d trả lại m t b ng cho bà Đ khi nào bà Đ có nhu cầu nên bà Đ đồng ý, tuy nhiên chỉ nói mi ng, không có lập văn bản gì, phía thi hành án c ng không thể hi n tài sản là nhà v sinh của bà N n m trên thửa 1309. Đến nay bà Đ có nhu cầu làm hàng rào nhưng bà N không giữ lời h a mà ngăn cản, la ó không chịu di dời.
Sau các buổi xem xét thẩm định thì các bên đã thống nhất xác định đư c một phần nhà v sinh của bà N xây dựng trên di n tích của thửa 1309 có kích thư c như sau: chiều dài (theo hư ng t đường ĐT 848 nhìn vào) là 0,66m, chiều ngang (dọc theo đường ĐT 848) là 1,68m, chiều cao 2,65m, di n tích sàn xây dựng trên thửa 1309 là 1,1m .
Trong vụ án này thì giữa bà Đ và bà N đã tự th a thuận về giá trị quyền sử dụng và giá trị phần nhà v sinh bà N xây dựng trên thửa 1309 như sau: Xác định loại đất tại vị trí xây dựng nhà v sinh là đất trồng cây lâu năm có giá 4.000.000 đồng/m ; xác định toàn bộ giá trị phần nhà v sinh xây dựng trên thửa 1309 là 1.000.000 đồng, nên bà Đ, bà N không yêu cầu Tòa án ra quyết định định giá tài sản.
Nay bà Đ yêu cầu bà N phải di dời phần nhà v sinh xây lấn qua thửa 1309 có kích thư c: 0,66 x 1,68 1,1m để giao trả đất lại cho bà Đ quản lý sử dụng, bà Đ không h tr chi phí di dời.
Trường h p Tòa án xét xử quyết định giữ nguyên phần nhà v sinh của bà N trên đất thửa 1309 thì bà Đ không thống nhất, v n giữ nguyên quan điểm yêu cầu bà N di dời, nên không đưa ra ý kiến trong trường h p này. Ngoài ra, bà Đ không đưa ra ý kiến, hay yêu cầu tranh chấp nào khác.
Bà Đ xác định đang giữ bản chính giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, không cầm cố, thế chấp cho ai.
Tại phiên tòa, bà Đ thay đổi ý kiến, yêu cầu đư c nhận sử dụng phần nhà v sinh của bà N xây dựng trên thửa 1309 và đồng ý trả giá trị cho bà N theo giá mà các bên đã th a thuận là 1.000.000 đồng.
Bị đơn Lê Thị N và người đại diện theo ủy quyền là ông Trần Thanh H thống nhất trình bày:
Bà N xác định có một phần nhà v sinh của bà N xây dựng n m trên thửa 1309 hi n do bà Đ đ ng tên quyền sử dụng. Sau các buổi xem xét thẩm định thì các bên đã thống nhất xác định đư c một phần nhà v sinh của bà N xây dựng trên di n tích của thửa 1309 có kích thư c như sau: chiều dài (theo hư ng t đường ĐT 848 nhìn vào) là 0,66m, chiều ngang (dọc theo đường ĐT 848) là 1,68m, chiều cao 2,65m, di n tích sàn xây dựng trên thửa 1309 là 1,1m .
Tuy nhiên bà N xác định nhà v sinh này đư c bà N xây dựng t trư c khi bị kê biên, vi c bà N đư c xây dựng nhà v sinh trên đất là do bà N và ông T là chị em ruột, bà N không có chồng con nên bà để ông T là con trai út trong nhà đư c tất cả quyền sử dụng mà cha m để lại. Khi thi hành án kê biên và giao đất cho bà Đ thì không làm vi c v i bà N, đồng thời giữa bà N và bà Đ c ng không có th a thuận gì về vi c di dời một phần nhà v sinh, do đó bà N không đồng ý di dời nhà v sinh theo yêu cầu khởi ki n của bà Đ.
Trường h p Tòa án xét xử buộc bà N di dời phần nhà v sinh xây dựng trên thửa 1309 thì bà N c ng không đồng ý, giữ nguyên quan điểm ban đầu là không đồng ý di dời nên không đưa ra ý kiến trong trường h p này. Ngoài ra, bà N không đưa ra ý kiến, hay yêu cầu tranh chấp nào khác.
Trong vụ án này thì giữa bà Đ và bà N đã tự th a thuận về giá trị quyền sử dụng và giá trị phần nhà v sinh bà N xây dựng trên thửa 1309 như sau: Xác định loại đất tại vị trí xây dựng nhà v sinh là đất trồng cây lâu năm có giá 4.000.000 đồng/m ; xác định toàn bộ giá trị phần nhà v sinh xây dựng trên thửa 1309 là 1.000.000 đồng, nên bà Đ, bà N không yêu cầu Tòa án ra quyết định định giá tài sản.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên ý kiến theo Văn bản số 107/CCTHADS ngày 05 tháng 5 năm 2026của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 - Đồng Tháp, cụ thể:
Theo biên bản kê biên ngày 10/12/2019 thể hi n trên phần đất kê biên có một số cây trồng của ông T gồm: chuối, đu đủ, xoài và một số cây tạp, ngoài ra không có tài sản nào khác trên phần đất kê biên. Chi cục Thi hành án chỉ kê biên và bán đấu giá tài này của ông Lê Công T để thi hành án. Tại thời điểm kê biên, Chi cục Thi hành án không kê biên, bán đấu giá tài sản nào khác của ai trên phần đất kê biên của ông Lê Công T.
Theo biên bản giao nhận tài sản cho người mua trúng đấu giá ngày 19/01/2021 thể hi n trên phần đất cư ng chế giao cho bà Nguyễn Thị Đ đư c nhận có một số giàn trồng hoa và 1.535 gi kiểng lá, Chi cục Thi hành án đã cho di dời toàn bộ ra kh i phần đất giao cho bà Nguyễn Thị Đ đư c nhận, phần đất giao là phần đất trống, không còn bất c cây trồng, tài sản nào của ai trên phần đất giao cho bà Nguyễn Thị Đ.
Đối v i vi c bà Nguyễn Thị Đ yêu cầu bà Lê Thị N tháo d , di dời 01 phần nhà v sinh trên thửa đất số 1309, TBĐ 26 thì THADS không có ý kiến.
Bản án dân sự sơ thẩm số: 34/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực X, tỉnh Đồng Tháp đã căn c các Căn c vào các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 157, 158, 165, 166, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn c Điều 166 Bộ luật Dân sự; các Điều 26 , 236 Luật Đất đai năm 2024;
Căn c Điều 12, Điều 14, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi ki n của bà Nguyễn Thị Đ
Bà N giao trả cho bà Đ quyền sử dụng có di n tích 1,1m (thể hi n tại các mốc A-B-C-D-A theo biên bản thẩm định ngày 23/6/2025) và giao phần nhà v sinh (chiều cao 2,65m) xây dựng trên phần di n tích 1,1m (thể hi n tại các mốc A-B-C-D-A theo biên bản thẩm định ngày 23/6/2025) cho bà Đ quản lý sử dụng.
(K m theo bản án là biên bản xem xét, thẩm định t i ch ngày 23/6/2025).
Bà Đ trả cho bà N giá trị phần nhà v sinh bà N xây dựng là 1.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ chịu án phí, thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 07 tháng 9 năm 2025, bị đơn bà Lê Thị N có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, bà N không đồng ý nhận 1.000.000 đồng tiền đền bù nhà v sinh của bà Đ vì phần đất này cha m bà đã cho bà t năm 1993 và bà ở ổn định cho đến nay. Bà N không thiếu n ông Trần Rạng Đ1, khi kê biên và cư ng chế thi hành án cơ quan thi hành án không thông báo cho bà N biết và c ng không mời làm vi c nên bà N yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử theo hư ng cho bà N tiếp tục sử dụng phần đất tranh chấp trên đất có nhà v sinh.
T i phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ giữ nguyên yêu cầu khởi ki n; Bị đơn bà Lê Thị N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; Hai bên đương sự không th a thuận đư c v i nhau vi c giải quyết vụ án.
Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử phúc thẩm tuân thủ đúng các qui định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự chấp hành đúng pháp luật t khi thụ lý vụ án đến trư c khi Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung vụ án: Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã đ c xem xét t i phiên tòa, kết quả tranh tụng t i phiên tòa; nghe quan điểm của kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan h tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn c vào yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ xác định quan h tranh chấp là “Quyền sử dụng đất” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực X - Đồng Tháp quy định tại các Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan vắng m t và có đơn xin vắng nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng m t các đương sự theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đơn kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị N đúng quy định tại Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đư c xem xét giải quyết.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị N:
Phần đất tranh chấp có di n tích 1,1m (thể hi n tại các mốc A-B-C-D-A), trên đất có một phần nhà v sinh (chiều ngang 1,68m, chiều dài 0,66m, chiều cao 2,65m, di n tích sàn 1,1m2) do bà N xây dựng (Theo biên bản xem xét thẩm định tại ch ngày 23/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc (Bút lục 141-143). Bà Đ yêu cầu bà N di dời phần nhà v sinh xây lấn qua thửa đất số 1309 để giao trả quyền sử dụng di n tích 1,1m cho bà Đ quản lý sử dụng, bà Đ đồng ý trả giá trị tài sản trên đất cho bà N theo giá mà các bên đã th a thuận là 1.000.000 đồng. Bà N kháng cáo không đồng ý nhận 1.000.000 đồng tiền đền bù nhà v sinh của bà Đ và yêu cầu tiếp tục sử dụng phần đất tranh chấp trên đất có nhà v sinh.
Nguyên đơn và bị đơn thống nhất phần đất tranh chấp có di n tích 1,1m n m trong thửa đất số 1309, tờ bản đồ số 26, di n tích 279,4m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu năm, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS11133 ngày 07/6/2021 cho bà Nguyễn Thị Đ, trên cơ sở bà Đ trúng đấu giá đối v i quyền sử dụng đất của ông Lê Công T bị Chi cục Thi hành án thành phố Sa Đéc kê biên bán đấu giá để thi hành Quyết định số: 34/2017/QĐST-DS ngày 04/4/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc. Bà N cho r ng phần đất tranh chấp trư c đây ba m cho bà nhưng không có ch ng c ch ng minh nên án sơ thẩm xác định bà Đ là người đ ng tên h p pháp và có quyền sử dụng, quyền định đoạt đối v i thửa đất số 1309 theo quy định là có căn c .
Theo Biên bản giao nhận tài sản thi hành án ngày 19/01/2021 (Bút lục 91) Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc cùng các ngành liên quan tiến hành đo đạc, trồng trụ đá, rào lư i B40 xung quanh, bàn giao quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Đ xong, thể hi n tài sản trên đất có một số giàn trồng hoa và 1.535 gi kiểng lá của ông T đã di dời. Tuy nhiên, bà Đ và bà N cùng xác định khi bàn giao tài sản thì trên thửa đất số 1309 đã có một phần nhà v sinh của bà N. Bà Đ cho r ng bà và bà N có th a thuận mi ng khi nào bà Đ cần sử dụng thì bà N s di dời nhà v sinh trả lại phần đất này cho bà Đ. Bà N không th a nhận và cho r ng nhà v sinh này bà xây dựng t trư c khi đất bị kê biên bán đấu giá nên không đồng ý di dời, yêu cầu đư c sử dụng nhà v sinh trên phần đất tranh chấp, không đồng ý hoàn giá trị quyền sử dụng đất cho bà Đ. Xét hi n trạng một phần nhà v sinh của bà N có kết cấu: Lát gạch, khung sắt, mái tole, bà N xác định có thể di dời đư c và thực tế hi n nay bà N không còn sử dụng b hoang vì đã xây dựng nhà v sinh m i. Trong quá trình giải quyết, bà Đ và bà N thống nhất toàn bộ giá trị tài sản trên di n tích 1,1m2 là 1.000.000 đồng và tại phiên tòa sơ thẩm bà Đ đồng ý hoàn trả giá trị phần nhà v sinh cho bà N là 1.000.000 đồng nên án sơ thẩm giao một phần nhà v sinh xây dựng trên di n tích 1,1m2 đất tranh chấp cho bà Đ quản lý sử dụng là phù h p v i quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và l i ích h p pháp của các bên đương sự.
T những nhận định như đã nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bà N; Giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm.
Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên phát sinh hi u lực kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Ý kiến đề nghị của Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phù h p v i nhận định trên của Hội đồng xét xử nên đư c chấp nhận.
Về án phí: Bà N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do người cao tuổi có đơn xin miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c khoản 1 Điều 308, Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị N.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 34/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực X, tỉnh Đồng Tháp.
Căn c vào các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 157, 158, 165, 166, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn c Điều 166, 169 Bộ luật Dân sự; các Điều 26, 236 Luật Đất đai năm 2024;
Căn c Điều 12, Điều 14, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi ki n của bà Nguyễn Thị Đ.
Bà N giao trả cho bà Đ quyền sử dụng có di n tích 1,1m (thể hi n tại các mốc A-B-C-D-A theo biên bản thẩm định ngày 23/6/2025) và giao phần nhà v sinh (chiều cao 2,65m) xây dựng trên phần di n tích 1,1m (thể hi n tại các mốc A-B-C-D-A theo biên bản thẩm định ngày 23/6/2025) cho bà Đ quản lý sử dụng.
(K m theo bản án là biên bản xem xét, thẩm định t i ch ngày 23/6/2025).
Bà Đ trả cho bà N giá trị phần nhà v sinh bà N xây dựng là 1.000.000 đồng.
2. Về án phí:
Bà Lê Thị N đư c miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ng án phí 300.000 đồng mà bà Đ đã nộp theo Biên lai thu số 0007927 ngày 15/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp đư c khấu tr vào án phí phải nộp.
3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại ch : Bà Lê Thị N phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại ch là 1.700.000 đồng, bà Nguyễn Thị Đ đã nộp tạm ng và chi xong nên bà N có trách nhi m nộp số tiền 1.700.000 đồng để hoàn trả cho bà Đ.
4. Kể t ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người đư c thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền phải trả cho người đư c thi hành án, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo m c lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự cho đến khi thi hành án xong.
5. Trường h p Bản án đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án ho c bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hi u thi hành án đư c quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hi u lực pháp luật kể t ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - TAND Khu vực X, tỉnh Đồng Tháp; - THADS tỉnh Đồng Tháp; - Các đương sự; - Phòng KTNV&THA; - Cổng thông tin đi n tử: - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Ngọc Hải |