vanban.org

Bản án 33/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 10/02/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Đỗ Kế H và Lê Kim Đ1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Kế H 02 (hai) năm tù. Tổng hơp hình phạt với Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cà Mau xử phạt Đỗ Kế H 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hình phạt chung bị cáo Đỗ Kế H phải chấp hành là 03 (ba) năm 06 (sáu) th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "các bị cáo Đỗ Kế H và Lê Kim Đ1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Đỗ Kế H và Lê Kim Đ1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU
_______

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HSST
Ngày 10-02-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Cao Hồng Cẩm.

Bà Vũ Thị Mỹ Linh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Diễm Quỳnh là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Tiết Ánh Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2025/TLST-HS, ngày 17 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2312/2026/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên bị cáo: Đỗ Kế H, sinh ngày 25 tháng 12 năm 1984 tại Bạc Liêu; số CCCD: 095084006782; nơi thường trú: Ấp X, xã P, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không có nghề nghiệp ổn định; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn Đ và bà Trần Thị H1; bị cáo có vợ và 01 con; tiền án: Không; tiền sự: 01, ngày 13 tháng 10 năm 2017 bị Công an thành phố B, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 2.250.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chưa chấp hành quyết định; Nhân thân: Tại Bản án số 48/2022/HS-ST ngày 08 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu xử phạt Đỗ Kế H thời hạn 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20 tháng 10 năm 2022 tại Trại giam K, tỉnh Hậu Giang, án phí hình sự sơ thẩm chấp hành xong ngày 25 tháng 12 tháng 2023; Tại Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cà Mau xử phạt Đỗ Kế H thời hạn 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo đang chấp hành án (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên bị cáo: Lê Kim Đ1, sinh ngày 06 tháng 02 năm 1985 tại tỉnh Cà Mau; số CCCD: 096185016289; nơi thường trú: Ấp Đ, xã K, tỉnh Cà Mau; nơi tạm trú: Khóm B, phường L, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị O; bị cáo có chồng và 02 con; tiền án: không; tiền sự: 01 lần vào ngày 16 tháng 4 năm 2025 bị Công an xã L, thành phố C xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29 tháng 4 năm 2025 đến ngày 07 tháng 5 năm 2025 chuyển sang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 29 tháng 4 tháng 2025, bị cáo Đỗ Kế H gọi điện thoại cho bị cáo Lê Kim Đ1 rủ bị cáo Đ1 cùng nhau sử dụng ma túy thì bị cáo Đ1 đồng ý, cả hai hẹn nhau tại nhà nghỉ P1, địa chỉ: khóm B, phường L, tỉnh Cà Mau do bà Trần Thị B làm quản lý để cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi cùng nhau sử dụng hết số ma túy trên, do cả hai muốn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, nên bị cáo Đ1 dùng số điện thoại 0852.001.241 liên hệ vào số điện thoại 0912.036.845 của người thanh niên bán ma túy tên Nguyễn Trường H2 để mua ma túy với giá 500.000 đồng thì H2 đồng ý bán và kêu bị cáo Đ1 đến hẻm N (gần Bến xe C thuộc Khóm A, phường T, tỉnh Cà Mau) để nhận ma túy. Bị cáo Đ1 kêu bị cáo H đi lấy ma túy tại hẻm N và liên hệ xe Grab Huỳnh T đến nhà nghỉ P1 để chở bị cáo H đi lấy ma túy. Khi xe G1 do Trịnh Hoàng P điều khiển đến đón bị cáo H, bị cáo Đ1 có liên hệ lại cho H2 là có người lên gặp để lấy ma túy; sau khi liên hệ, bị cáo Đ1 chuyển khoản cho H2 số tiền 800.000 đồng vào số tài khoản 0916272532 Ngân hàng TMCP H3 do Nguyễn Trường H2 làm chủ tài khoản (trong đó 500.000 đồng là tiền mua ma túy và 300.000 đồng tiền xe G1 giao ma túy cho Đời 03 lần trước đây). Khi bị cáo H lên đến hẻm N thì gặp 01 người thanh niên, người này ném xuống đất 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Seven Diamon, bị cáo H nhặt vỏ bao thuốc lá, mở ra xem thấy bên trong có bọc nilon màu trắng bóp kín miệng, có rãnh cài viền màu đỏ, bên trong có chứa ma túy đá, H lấy bỏ vào túi quần đang mặc trên người cất giấu rồi đi xe G1 về lại nhà nghỉ P1. Khi tới nhà nghỉ, bị cáo H đi vào phòng số 03; trên đường đi, bị cáo H lấy bọc ma túy ra và vứt bỏ bao thuốc lá hiệu Seven D rồi đi vào phòng đưa bọc ma túy đá vừa mua được cho bị cáo Đ1. Do có công việc riêng nên Đ1 đi về mà không tiếp tục sử dụng ma túy và mang bọc ma túy về nhà tại khóm B, phường L, tỉnh Cà Mau, Đ1 bỏ bọc ma túy vào mặt trước gói thuốc, giữa bao kiếng và vỏ bao thuốc lá hiệu Young Star, màu xanh rồi để trên mặt bàn giữa nhà cất giấu.

Đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, lực lượng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh C kết hợp cùng với Công an phường L, tỉnh Cà Mau đến kiểm tra nơi ở của Lê Kim Đ1 tại khóm B, phường L, tỉnh Cà Mau phát hiện, bắt quả tang Lê Kim Đ1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tang vật thu giữ:

- 01 bọc nilon màu trắng bóp kín miệng, có rãnh cài viền màu đỏ, bên trong có chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật có chữ ký ghi họ tên Lê Kim Đ1, Diệp Văn T1, Lê Thanh T2, Quách Minh T3; chữ ký, dấu tên màu đỏ “Trung tá Nguyễn Trà T4” và 03 dấu hình tròn màu đỏ của Công an xã L.

- 01 điện thoại di động hiệu IPhone 12, màu trắng có gắn 01 sim số 0825.001.241 (đã qua sử dụng);

- 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Young Star.

Tại bản Kết luận giám định số 198/KL-KTHS ngày 06 tháng 5 năm 2025 của Phòng K1 Công an tỉnh C, kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon màu trắng có viền đỏ được bóp kín miệng, niêm phong trong phong bì hình chữ nhật gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,6039 gam, loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 12/CT-VKS, ngày 14 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau đã truy tố các bị cáo Lê Kim Đ1 và Đỗ Kế H về tội “Tàng trữ trái pháp chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Kim Đ1 và Đỗ Kế H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Kim Đ1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; xử phạt bị cáo Đỗ Kế H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Tại phiên tòa, các bị cáo Đỗ Kế H và Lê Kim Đ1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 29 tháng 4 năm 2025 của Công an phường L, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định bị cáo Lê Kim Đ1 điện thoại mua ma tuý và chuyển trả tiền mua ma túy cho Nguyễn Trường H2, bị cáo Đỗ Kế H là người đi lấy ma tuý giao cho bị cáo Đ1 cất giấu trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng là 0,6039 gam nhằm mục đích để sử dụng. Các bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, Cáo trạng số 12/CT-VKS, ngày 14 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Cà Mau đã truy tố bị cáo Đỗ Kế H và Lê Kim Đ1 về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi do các bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm phạm an ninh trật tự xã hội; các bị cáo nhận thức và biết được việc sử dụng ma túy tạo điều kiện làm gia tăng tệ nạn nghiện hút ma túy trong thanh thiếu niên và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, nhưng các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng; các bị cáo có nhân thân xấu và có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; bị cáo H đã từng bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản và đang chấp hành án về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Do đó, cần có một mức án nghiêm khắc đối với các bị cáo để các bị cáo lao động, học tập trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo một phần hình phạt vì các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Đ1 có bác là liệt sĩ, cha tham gia cách mạng được tặng huy hiệu 30 năm tuổi Đảng và huy chương bảo vệ an ninh tổ quốc; cha, mẹ của bị cáo H có công với Nhà nước, cha bị cáo H là thương binh và được tặng thưởng huân chương kháng chiến; bị cáo Đ1 trong quá trình điều tra đã tích cực giúp cơ quan điều tra trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt như nêu trên là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với Nguyễn Trường H2 người bán ma túy cho bị cáo Lê Kim Đ1 và bị cáo Đỗ Kế H, hiện H2 đang bị khởi tố, tạm giam trong vụ án khác, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C tách ra tiếp tục điều tra, xác minh, khi có đủ căn cứ tiến hành xử lý sau là phù hợp nên không xem xét. Đối với ông Trịnh Hoàng P (người chạy xe G1), do bị cáo Lê Kim Đ1 kêu chở bị cáo Đỗ Kế H đến hẻm N thuộc phường T, tỉnh Cà Mau nhưng ông P không biết việc bị cáo H đi lấy ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C không đề cập xử lý đối với P là đúng với quy định của pháp luật. Đối với bà Trần Thị B (người trực tiếp quản lý nhà nghỉ P1), việc các bị cáo Lê Kim Đ1 và Đỗ Kế H sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng số 03 của nhà nghỉ P1, bà B không biết việc này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C không đề cập xử lý đối với bà B về hành vi chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.

Vật chứng của vụ án: 01 phong bì hoàn mẫu số 198/KL-KTHS ngày 06 tháng 5 năm 2025 của Phòng K1 Công an tỉnh C (trên phong bì có chữ ký của Trương Minh G, Dương Hải Đ2 và 08 dấu mộc tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh C); 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Young Star, màu trắng xanh. Xét thấy các vật chứng nêu trên không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu IPhone 12 màu trắng, bên trong có gắn 01 sim thuê bao 0852.001.241 (đã qua sử dụng) của bị cáo Lê Kim Đ1 có liên quan đến việc phạm tội và còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm buộc các bị cáo Đỗ Kế H và Lê Kim Đ1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Đỗ Kế H và Lê Kim Đ1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt: Bị cáo Đỗ Kế H 02 (hai) năm tù. Tổng hơp hình phạt với Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cà Mau xử phạt Đỗ Kế H 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hình phạt chung bị cáo Đỗ Kế H phải chấp hành là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10 tháng 02 năm 2026) được trừ thời gian bị cáo đã chấp hành án từ ngày 14 tháng 5 năm 2025 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 10 tháng 02 năm 2026).

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử Phạt: Bị cáo Lê Kim Đ1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành hình phạt được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 29 tháng 4 năm 2025 đến ngày 07 tháng 5 năm 2025.

2. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì hoàn mẫu số 198/KL-KTHS ngày 06 năm 5 năm 2025 của Phòng K1 Công an tỉnh C (trên phong bì có chữ ký của Trương Minh G, Dương Hải Đ2 và 08 dấu mộc tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh C); 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Young Star, màu trắng xanh.

Tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động hiệu IPhone 12 màu trắng, bên trong có gắn 01 sim thuê bao 0852.001.241 (đã qua sử dụng).

Vật chứng hiện do Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 09/QĐ-VKS ngày 14 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau và biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19 tháng 11 năm 2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh C và Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau.

3. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Đỗ Kế H và Lê Kim Đ1 mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Án xử sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ