vanban.org

Bản án 33/2025/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 15/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

V tội danh à h nh phạt:

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Quàng Văn N 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù t nh từ ngày bị cáo Quàng Văn N đi thi hành án phạt tù. Được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo từ ngày 16/9/2024 đến ngày 25/12/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn N phạm tội TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? V tội danh à h nh phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TC
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HSST
Ngày 15-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn Tiến Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Xuân Tư và bà Lý Thị Vinh.

- Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC tham gia phiên toà: Ông Bạc Cầm Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Quàng Văn N, tên gọi khác: Không; sinh ngày: 05/01/1983 tại huyện TC, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản S, xã CP, huyện TC, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Thái; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn K (đã chết) và bà Lò Thị T, sinh năm 1962; bị cáo có vợ Lường Thị O, sinh năm 1986 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2003 và con nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/9/ 2024 đến ngày 25/12/2024 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 30 phút ngày 16/9/2024, Tổ công tác Công an huyện TC, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản S, xã CP, huyện TC, phát hiện bắt quả tang Quàng Văn N có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nilon màu hồng bên trong có chứa chất bột cục màu trắng nghi là Heroine và 04 (bốn) viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp (theo Quàng Văn N khai là Heroine và ma túy tổng hợp).

Hồi 19 giờ 30 phút ngày 16/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TC đã tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy m u giám định; kết quả: Số chất bột cục màu trắng nghi là Heroine có khối lượng 0,07 gam ký hiệu N1 và 04 viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp có khối lượng 0,41 gam, ký hiệu N2 gửi giám định loại và chất ma túy.

Kết luận giám định số: 1843/KL-KTHS ngày 20/9/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: M u gửi giám định ký hiệu N1 là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số: 57/2022/NĐCP ngày 25/8/2022 của Ch nh phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của m u gửi giám định là 0,07 gam. M u gửi giám định ký hiệu N2 là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của m u gửi giám định là 0,41 gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ của Quàng Văn N là: 0,07 gam loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số: 57/2022/NĐCP ngày 25/8/2022 của Ch nh phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; 0,41 gam loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định: M u gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Căn cứ Điều 4 Nghị định số: 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Ch nh phủ quy định về việc t nh tổng khối lượng hoặc thể t ch chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự: Chất ma túy loại Heroine có khối lượng 0,07 gam và Methamphetamine có khối lượng 0,41 gam thì tổng khối lượng chất ma túy thu giữ của Quàng Văn N là 0,48 gam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Quàng Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 16/9/2024, Quàng Văn N đi bộ một mình từ nhà ở bản S, xã CP, huyện TC đến xã Phổng Lái, huyện TC với mục đ ch để tìm mua ma túy về để sử dụng. Khi Quàng Văn N đi đến khu vực bản L, xã P, huyện TC, Quàng Văn N gặp và hỏi mua được của một người phụ nữ dân tộc Thái (Quàng Văn N không biết tên, địa chỉ cụ thể ở đâu) một lượng Heroine và 04 viên ma túy tổng hợp được gói bằng gói nilon màu hồng với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, N cầm gói ma túy vừa mua được ở bên tay trái rồi đi bộ về nhà. Khi Quàng Văn N về đến khu vực bản S, xã CP, huyện TC thì bị tổ công tác Công an huyện TC yêu cầu kiểm tra ma túy thì phát hiện, thu giữ cùng tang vật. Sau đó tổ công tác đã đưa Quàng Văn N về trụ sở UBND xã CP, huyện TC lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng.

Tại bản Cáo trạng số: 01/CT- VKSTC ngày 11 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC đã truy tố bị cáo Quàng Văn N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Quàng Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện TC đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân t ch đánh giá t nh chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Quàng Văn N từ 20 (Hai mươi) tháng tù đến 26 (Hai mươi sáu) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu hồng; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

Miễn toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn N.

Tại phiên tòa, bị cáo Quàng Văn N thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Ngày 16/9/2024 bị cáo Quàng Văn N đã có hành vi cất giữ trái phép 0,48 gam chất ma tuý, loại Methamphetamine và Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine trong người với mục đ ch để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực bản S, xã CP, huyện TC, tỉnh Sơn La.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất tr với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với kết quả điều tra, phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 16/9/2024; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy m u gửi giám định và niêm phong lại; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số: 1843/KL-KTHS ngày 20/9/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; lời khai của người chứng kiến.

Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận hành vi cất giữ trái phép 0,48 gam chất ma túy (trong đó 0,07 gam loại Heroine và 0,41 gam loại Methamphetamine) trong người với mục đ ch để sử dụng của bị cáo Quàng Văn N đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến ch nh sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe giáo dục đối với bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra bản thân bị cáo thường xuyên ốm đau, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo Quàng Văn N không có tài sản, không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Quàng Văn N khai mua của một người phụ nữ dân tộc Thái không biết họ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực bản L, xã P, huyện TC, tỉnh Sơn La vào ngày 16/9/2024. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, buộc bị cáo Quàng Văn N phải chịu trách nhiệm về số ma túy bị thu giữ.

Vật chứng vụ án: Đối với 01 mảnh nilon màu hồng; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là công cụ phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, vật không có giá trị, không sử dụng được cần tịch thu tiêu hủy căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo Quàng Văn N là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin miễn án ph hình sự sơ thẩm, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn N.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. V tội danh à h nh phạt:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Quàng Văn N 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù t nh từ ngày bị cáo Quàng Văn N đi thi hành án phạt tù. Được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo từ ngày 16/9/2024 đến ngày 25/12/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. V ật chứng ụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong có viền màu xanh đỏ, bên trong có: 01 mảnh nilon màu hồng + 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu (mô tả chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/12/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an và cơ quan Thi hành án dân sự).

3. V án ph : Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn N.

4. V quy n kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Quàng Văn N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ