- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. - phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (điều 201 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT TP. CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --------- Bản án số 33/2025/HS-ST Ngày: 09/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT – TP. CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Lộc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Thái Ánh Trinh
2/ Ông Tăng Tài Thủ
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Xa - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 23/2025/TLST- HS ngày 24 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị H - sinh năm: 1969.
Đăng ký thường trú: Khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Hòa hảo; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: buôn bán; Họ tên cha: Nguyễn Văn S, sinh năm: 1933 (sống); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị S1, sinh năm: 1933 (sống); Họ tên chồng: Thái Kim L, sinh năm: 1969 (đã ly hôn); Con: có 02 người, lớn - sinh năm: 1988, nhỏ - sinh năm: 1992.
- Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/02/2025 cho đến nay tại phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ông Thái Hoàng Thanh H1 - sinh năm: 1982 ( Có mặt)
Địa chỉ: khóm T, phường L, quận Ô, Cần Thơ.
- Người làm chứng:
1/ Bà Thái Thị Ngọc D – sinh năm: 1988 ( Có mặt)
2/ Ông Thái Hoàng P – sinh năm: 1992 ( Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: KV T, phường T, quận T, Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 12/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp nhận kiến nghị khởi tố đối với Nguyễn Thị H có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ô (Bút lục 03). Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh và xác định: Vào ngày 20/01/2023, Thái Hoàng Thanh H1 sử dụng điện thoại hỏi vay của Nguyễn Thị Hằng S2 tiền 50.000.000 đồng để làm vốn chăn nuôi và kinh doanh; H1 và H thống nhất vay thời hạn 03 tháng, lãi suất 15%/tháng với số tiền lãi 7.500.000 đồng/tháng, nếu đến hạn trả nhưng không trả tiền gốc thì tiếp tục đóng lãi. Đến ngày 24/01/2023, H điện thoại H1 hẹn gặp ở quán cà phê không tên thuộc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ đưa số tiền vay 50.000.000 đồng cho H1 và thỏa thuận trả lãi hàng tháng thông qua tài khoản 7579999779 ngân hàng quận đội (M) của Thái Thị Ngọc D (con ruột H). Từ tháng 3/2023 đến tháng 12/2023, Thái Hoàng Thanh H1 đã trả lãi bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản 169188459 ngân hàng V tên Thái Hoàng Thanh H1 đến số tài khoản 7579999779 tên Thái Thị Ngọc D 10 lần với số tiền 52.100.000 đồng và ngày 23/02/2024 chuyển đến ngân hàng S3, số tài khoản 070122456666 tên Thái Hoàng P (con ruột H) số tiền 4.500.000 đồng. Trong thời gian trả lãi, có tháng H1 trả đủ số tiền lãi 7.500.000 đồng, có tháng H1 trả lãi không đủ; tổng số tiền H1 trả lãi cho H trong 11 tháng là 56.600.000 đồng.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị H thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai phù hợp với chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án và tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính là 47.415.000 đồng (Bút lục 30, bút lục 140 đến 152).
Về vật chứng: không.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Thái Hoàng Thanh H1 không yêu cầu.
Tại Cáo trạng số 31/CT-VKS, ngày 24 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Tp . truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt đã truy tố, không có ý kiến gì khác. Bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình do bị cáo không am hiểu pháp luật nên mới vi phạm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cam kết không tái phạm.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Thái Hoàng Thanh H1 vẫn giử nguyên ý kiến như quá trình điều tra. Nay ông yêu cầu được nhận số tiền bị cáo thu tiền lãi của ông vượt so với quy định để ông có điều kiện trả lại số tiền nợ gốc ông chưa trả bị cáo.
Người làm chứng bà Thái Thị Ngọc D vẫn giử nguyên ý kiến như trong quá trình điều tra.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm; đồng thời phát biểu quan điểm luận tội phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và trên cơ sở đó đề nghị:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
[1] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào Điều 35, điểm i,s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 60.000.000 đồng – 70.000.000 đồng
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng do hình phạt chính là phạt tiền.
[2] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Buộc bị cáo phải nộp số tiền 9.185.000đồng là tiền lãi bị cáo có được do thực hiện việc phạm tội sung ngân sách nhà nước.
- Truy thu số tiền 50.000.000 đồng là số tiền gốc ông Thái Hoàng Thanh H1 chưa trả cho bị cáo để sung ngân sách nhà nước.
- Trả lại cho ông Thái Hoàng Thanh H1 số tiền thu lợi bất chính 47.415.000 đồng bị cáo đã thu của ông H1, hiện số tiền này đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
[3] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người làm chứng ông Thái Hoàng P vắng mặt, không rõ lý do. Xét trong điều tra đã thu thập được lời khai của những người này, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai tại phiên tòa. Do đó, việc vắng mặt của ông không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội: Trong điều tra và qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ như: Các biên bản về hoạt động điều tra, các biên bản ghi lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan...
Như vậy, có cơ sở xác định: Ngày 20/01/2023, ông Thái Hoàng Thanh H1 hỏi vay của bị cáo Nguyễn Thị Hằng S2 tiền 50.000.000 đồng để làm vốn chăn nuôi và kinh doanh, thời hạn vay 03 tháng, lãi suất 15%/tháng với số tiền lãi 7.500.000đồng/tháng, nếu đến hạn trả nhưng không trả tiền gốc thì tiếp tục đóng lãi. Đến ngày 24/01/2023, bị cáo giao số tiền vay 50.000.000 đồng cho ông H1 và thỏa thuận trả lãi hàng tháng theo hình thức chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của bà Thái Thị Ngọc D là con bị cáo. Từ tháng 3/2023 đến tháng 12/2023, ông H1 đã chuyển khoản cho bà Thái Thị Ngọc D 10 lần với số tiền 52.100.000 đồng và ngày 23/02/2024 chuyển ông Thái Hoàng P số tiền 4.500.000 đồng. Tổng số tiền lãi bị cáo nhận của ông H1 là 56.600.000đồng tương đương 180%/năm đã vượt quá mức lãi suất cao nhất 20%/năm theo quy định khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và tình tiết tặng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với động cơ vụ lợi; hành vi mà bị cáo thực hiện không những xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ mà còn xâm phạm đến lợi ích của công dân được pháp luật bảo vệ. Do vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm minh tương xứng hành vi của bị cáo để giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
Bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây được xem là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo phù hợp .
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy do hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp theo quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
[8] Về các vấn đề khác: Đối với bà Thái Thị Ngọc D và ông Thái Hoàng P nhận tiền chuyển khoản của ông Thái Hoàng Thanh H1 dùm cho bị cáo nhưng bà D, ông P hoàn toàn do không biết bị cáo có hành vi cho vay lãi nặng nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.
[9] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
[1] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào Điều 35, điểm i,s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hằng S2 tiền 60.000.000 đồng.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
[2] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp số tiền 9.185.000đồng sung ngân sách nhà nước.
- Buộc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Thái Hoàng Thanh H1 phải nộp số tiền 50.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
- Trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Thái Hoàng Thanh H1 số tiền 47.415.000 đồng, hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận T đang quản lý. ( Theo giấy nộp tiền ngày 26/3/2025 giữa người nộp Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C và người nhận Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt).
[3] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp số tiền 200.000đồng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
[5] Về quyền và nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND TP. Cần Thơ; - Công an Tp. Cần Thơ; - VKSND quận Thốt Nốt; - Cơ quan THA quận Thốt Nốt; - Bị cáo; - Người bị hại - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Bá Lộc |