vanban.org

Bản án 33/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ Tuyên án 29/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo với thời gian thử thách 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án ngày 29/9/2025. Giao bị cáo Lê Văn T cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Cần Thơ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ bị cáo Lê Văn T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HS-ST
Ngày 29-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nghiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Hải

Ông Ngô Văn Tân

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi – Là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Tuyết - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Văn T, sinh ngày 01/01/1975 tại N, Sóc Trăng. Nơi cư trú: Khóm G, phường N, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị N; có vợ Trần Thị M và 02 người con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2006; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: Không có án tích; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/6/2025 đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Ông Tăng Quốc Đ, sinh năm 1992 (đã chết).

Địa chỉ: Khóm V, phường M, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1/ Ông Tăng Văn S, sinh năm 1970 (vắng mặt).

2/ Bà Trần Thị K, sinh năm 1967 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm V, phường M, thành phố Cần Thơ.

3/ Bà Trần Thị N1, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm M, phường M, thành phố Cần Thơ.

Ông Tăng Văn S là đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị K và bà Trần Thị N1 theo hợp đồng ủy quyền chứng thực ngày 29/8/2025.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1981 (có mặt).

2/ Ông Lê Văn P, sinh năm 1962 (có mặt).

Địa chỉ: Khóm G, phường N, thành phố Cần Thơ.

- Người làm chứng:

1/ Ông Thái Thanh L, sinh năm 1982 (có mặt).

Địa chỉ: Khóm G, phường N, thành phố Cần Thơ.

2/ Ông Cao Nhật Trường H1, sinh năm 2004 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp P, xã L, thành phố Cần Thơ.

3/ Ông Trần Thanh Bảo T2, sinh năm 1985 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp V, phường N, thành phố Cần Thơ.

4/ Ông Trần Văn V, sinh năm 1992 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm M, phường M, thành phố Cần Thơ.

5/ Ông Lâm Văn S1, sinh năm 1970 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm E, phường N, thành phố Cần Thơ.

6/ Ông Huỳnh Văn D, sinh năm 1974 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm F, phường N, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 19/4/2025 ông Nguyễn Văn T1 có thuê ông Lê Văn T và ông Thái Thanh L vận chuyển bia thùng từ cây xăng 79 thuộc khóm A, phường N, thành phố Cần Thơ về khóm G, phường N, thành phố Cần Thơ.

Khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày, sau khi ông L đã khuân vác bia thùng lên xe ô tô tải mang kiểm kiểm soát số 83C-131.63 và lên ngồi phía sau thùng xe thì ông T điều khiển xe ô tô tải (ông T có giấy phép lái xe theo quy định) đi từ khuôn viên cây xăng 79 ra tuyến Quản lộ Phụng Hiệp nhằm mục đích qua phần đường bên phải theo hướng Cà Mau về Cần Thơ để chở bia về khóm G, phường N, thành phố Cần Thơ. Lúc này ông T điều khiển xe chạy chậm và quan sát hai hướng, khi ra tới đầu lộ ông T phát hiện bên tay trái có xe mô tô mang biển kiểm soát 83EA-067.55 do ông Tăng Quốc Đ điều khiển hướng từ Cần Thơ về Cà Mau, khoảng cách khi phát hiện xe của ông Đ khoảng 100 mét đang chạy với tốc độ nhanh. Do thấy khoảng cách xe của ông Đ còn xa nên ông T tiếp tục điều khiển xe đi qua phần đường bên phải, khi di chuyển qua đường ông T không bật đèn tín hiệu xin đường. Khi phần đầu xe ông T điều khiển ra tới tim lộ thì xe của ông Đ đi tới dẫn đến va chạm làm cho xe mô tô và ông Đ ngã xuống đường, còn ông T tiếp tục cho xe đi sát vào lề lộ bên phải rồi dừng xe lại. Do bị thương tích nặng nên ông Đ được gia đình đưa đến Bệnh viện cấp cứu, đến chiều cùng ngày thì ông Đ tử vong.

Tại bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 79/KLGĐTT-KTHS ngày 29/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh S, kết luận:

1. Các kết quả chính

- Kết quả giám định:

+ Trên cơ thể nạn nhân có nhiều dấu vết tổn thương.

+ Trong lòng khí quản chứa đầy máu loãng.

+ Sọ trán bị vỡ lún phức tạp.

+ Vỡ cung mày trái.

+ Sụp xương chính mũi.

+ Sụp xương gò má phải.

2. Kết luận:

- Nguyên nhân tử vong: Đa chấn thương.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành trưng cầu định giá tài sản đối với các bộ phận hư hỏng của xe mô tô mang biển kiểm soát 83EA-067.55, nhãn hiệu Wave Alpha. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐG ngày 04/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã N kết luận tổng giá trị thiệt hại là 941.000 đồng.

Tại Bản Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 15/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo T mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm. Về hình phạt bổ sung không đề nghị áp dụng. Về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét do bị cáo và đại diện bị hại đã thỏa thuận xong. Về vật chứng đề nghị trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng B2 cấp ngày 25/4/2022. Án phí bị cáo được miễn nộp theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn T thống nhất toàn bộ nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện chăm lo cho gia đình.

Quá trình điều tra gia đình bị hại xin không xử lý hình sự đối với bị cáo, về trách nhiệm dân sự bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng, gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên, Kiểm sát viên, cơ quan điều tra và cơ quan Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan quan tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về tố tụng: Tại phiên toà chỉ có mặt bị cáo Lê Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1, ông Lê Văn P và người làm chứng ông Thái Thanh L. Đại diện hợp pháp của bị hại và những người làm chứng còn lại được Tòa án triệu tập đều vắng mặt không lý do. Xét thấy, những người vắng mặt đã có lời khai trước đó tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt không cản trở việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn T thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, lời nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 12 giờ 20 phút ngày 19/4/2025 bị cáo Lê Văn T điều khiển xe ô tô tải mang biển kiểm soát 83C-131.63 đi từ khuôn viên cây xăng 79 ra tuyến Quản lộ Phụng Hiệp thuộc khóm A, phường N, thành phố Cần Thơ nhằm mục đích qua phần đường bên phải theo hướng Cà Mau về Cần Thơ, khi lưu thông bị cáo chuyển hướng không đảm bảo an toàn, vi phạm quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 15 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024, dẫn đến va chạm với xe mô tô mang biển kiểm soát 83EA-067.55 do ông Tăng Quốc Đ điều khiển làm ông Đ tử vong. Nên từ đó đủ căn cứ xác định bị cáo T đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 26/CT-VKSTT ngày 15/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ truy tố bị cáo theo điều luật đã viện dẫn ở trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Bị cáo thực hiện với lỗi vô ý do cẩu thả. Mặc dù hậu quả làm cho bị hại tử vong bị cáo không mong muốn, nhưng gia đình bị hại đã mất đi một người thân là nỗi đau không thể nào bù đắp. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và năng lực hành vi nên cần phải có mức hình phạt tương xứng với mức độ cũng như hậu quả bị cáo gây ra.

Tuy nhiên, khi xem xét hình phạt Hội đồng xét xử có cân nhắc đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng và được đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng cho bị cáo T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng quy định pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù thì bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo, nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương giáo dục cũng đủ sức răn đe bị cáo; đồng thời cũng thể hiện tính nhân đạo và sự khoan hồng của pháp luật, tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, xét đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã khắc phục cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên bố trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng B2 số 940045004626 cấp ngày 25/4/2022 của Lê Văn T.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Căn cứ Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo với thời gian thử thách 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án ngày 29/9/2025.

Giao bị cáo Lê Văn T cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Cần Thơ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết do đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu.

3. Xử lý vật chứng: Tuyên bố trả lại cho bị cáo Lê Văn T 01 (một) Giấy phép lái xe hạng B2 số 940045004626 cấp ngày 25/4/2022 của Lê Văn T.

4. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Lê Văn T được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ