vanban.org

Bản án 33/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng Tuyên án 11/12/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (10/4/2025). Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HS-ST
Ngày 11-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Kim Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Tám;

2. Ông Lê Văn Thêm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Liêm, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Trương Công Trình - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa hình sự sơ thẩm số 05/TB-TA ngày 11 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Q, sinh ngày 12 tháng 01 năm 1988, tại xã T, thành phố Đà Nẵng; nơi cư trú: thôn 1, xã T, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Lê Thị Ngọc N, sinh năm 1966; có vợ tên là Lê Thị V, sinh năm 1994 và 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 11/10/2005, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam đưa vào trường giáo dưỡng về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 05/QĐ-UB-NC; ngày 14/01/2009, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 05 (năm) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 133/2009/HSPT; ngày 09/12/2013, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam đưa vào cơ sở giáo dục về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo Quyết định số 3856/QĐ-UBND; ngày 24/02/2017, bị Công an huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe người khác” theo Quyết định số 48/QĐ-XPHC; ngày 29/9/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 15/2021/HS-ST; ngày 28/7/2025, bị Phòng PC04 Công an thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 131/QĐ-XPHC; ngày 11/12/2025, bị Tòa án nhân dân khu vực 6

- Đà Nẵng xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo Bản án số 31/2025/HS-ST. Bị bắt tạm giữ ngày 10/4/2025, chuyển tạm giam ngày 19/4/2025. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Lê Thị V, sinh năm 1994. Địa chỉ: thôn 1, xã T, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 08 giờ 15 phút ngày 10 tháng 4 năm 2025, Công an xã B, huyện T (nay là Công an xã T, thành phố Đà Nẵng) kiểm tra hành chính nhà bị cáo Nguyễn Văn Q tại thôn 1, xã T, thành phố Đà Nẵng phát hiện bị cáo đang ngồi tại phòng khách, trên mặt bàn trước vị trí bị cáo ngồi có 01 túi vải màu xanh rin (dạng hộp bầu, kích thước 16 cm x 6,5 cm x 03 cm) bên trong có 01 gói ni lông (dạng túi zip - sọc đỏ kích thước 08 cm x 05 cm) chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 nắp nhựa màu xanh đường kính 03 cm gắn 01 nỏ thuỷ tinh dài 14 cm (có dạng hình trụ tròn đường kính 0,5 cm, một đầu uốn cong có dạng hình cầu đường kính 01 cm), 01 đoạn ống nhựa màu vàng nhạt dài 15 cm, có dạng hình trụ tròn đường kính 0,6 cm, một đầu gắn đoạn ống nhựa màu xanh, 01 bật lửa bằng nhựa màu cam, tại vị trí phát lửa gắn 01 đoạn ống nhựa màu xanh - trắng gắn 01 đoạn lò xo. Qua làm việc, bị cáo khai nhận chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy đá, bị cáo mua về để sử dụng.

Tiếp tục kiểm tra nhà của bị cáo, Cơ quan Công an còn thu giữ: Tại vị trí trên kệ giá sách trong phòng khách 02 đồ vật bằng kim loại (01 vật màu cam, 01 vật màu xanh rêu) có hình dạng giống lựu đạn cao 8,9 cm, phần đế có đường kính 5,6 cm. Trong hộc bên phải tủ kim loại màu đỏ trước nhà vệ sinh: 01 đồ vật có hình dạng giống khẩu súng hơi bằng kim loại dài 80 cm, màu đen có ký hiệu chữ AIRFORCE (màu trắng) gắn dây dù sọc xanh đỏ; 01 đồ vật có hình dạng giống khẩu súng hơi bằng kim loại dài 107 cm, màu đen - vàng có gắn dây dù màu đen có ký hiệu chữ AIRFORCE màu trắng; 01 đồ vật có hình dạng giống khẩu súng hơi bằng kim loại dài 82 cm, màu đen - vàng có ký hiệu chữ XPOWER màu trắng; 01 đồ vật giống bình hơi của súng hơi bằng kim loại, màu đen, dài 32 cm, đường kính bình 06 cm; 01 đồ vật giống bình hơi của súng hơi bằng kim loại, màu đen, dài 37 cm, đường kính bình 06 cm; 01 đồ vật giống ống nhòm súng hơi bằng kim loại, màu đen, dài 32 cm, đường kính đầu lớn nhất 06 cm, đầu nhỏ đường kính 03 cm; 01 đồ vật giống ống nhòm súng hơi bằng kim loại, màu đen, dài 26 cm, đường kính đầu lớn nhất 5,3 cm, đầu nhỏ đường kính 2,5 cm; 01 hộp nhựa hình trụ tròn, có nắp vặn bằng nhựa màu đen cao 3,1 cm, đường kính 06 cm bên trong có 37 đồ vật giống viên đạn chì hình mũi dù dài 08 mm, đường kính 05 mm, màu xám.

Công an xã T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và thu giữ các đồ vật có liên quan. Tiến hành test nhanh ma túy, xác định bị cáo dương tính với ma tuý, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 08 tháng 4 năm 2025, bị cáo đến ngã 3 thị trấn V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (nay là phường Đ, thành phố Đà Nẵng) gặp 01 người đàn ông chạy xe ôm (không rõ nhân thân, lai lịch) đứng gần đó. Tại đây, bị cáo đưa cho người đàn ông trên 500.000 đồng rồi nhờ người đàn ông đi mua ma túy đá giúp. Khoảng 20 phút sau, người đàn ông quay lại đưa gói ma túy đá cho bị cáo mang về nhà tại thôn 1, xã T, thành phố Đà Nẵng cất giấu trong túi vải màu xanh rin để trên bàn ở phòng khách để sử dụng. Vào ngày 09/4/2025, bị cáo lấy một ít ma tuý trong gói ra sử dụng một mình tại nhà, số ma tuý còn lại bị cáo để lại vị trí cũ. Đến 08 giờ 15 phút ngày 10/4/2025, bị cáo bị Công an xã T kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy". Riêng các khẩu súng, đạn, mô hình lựu đạn bị cáo đặt mua trên mạng về lắp ráp lại trưng bày chơi.

Tại Bản kết luận giám định số 187/KL-KTHS ngày 16/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong 01 (một) túi ni lông không màu gửi giám định (mẫu ký hiệu A) là ma túy, loại Methamphetamie. Mẫu ký hiệu A có khối lượng là 0,896g (không phẩy tám trăm chín mươi sáu gam).

Tại Bản kết luận giám định số 808/KL-KTHS ngày 03/6/2025 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: 03 (ba) vật có hình dạng giống khẩu súng hơi gửi giám định là súng nén hơi; hiện tại 03 khẩu súng còn sử dụng bắn được và thuộc Phụ lục 1 “Danh mục vũ khí quân dụng" Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ Công an; 37 (ba mươi bảy) vật giống viên đạn hình mũi dù gửi giám định là đạn sử dụng cho các loại súng nén hơi, hiện tại còn sử dụng được và thuộc Phụ lục 1 “Danh mục vũ khí quân dụng" Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ Công an; 04 (bốn) mẫu vật gửi giám định gồm: 02 (hai) đồ vật giống bình hơi của súng hơi bằng kim loại, 02 (hai) đồ vật giống ống nhòm súng hơi bằng kim loại là bộ phận chứa hơi nén, ống ngắm thường sử dụng cho các loại súng nén hơi, hiện tại 04 (bốn) mẫu vật trên không lắp ráp thành khẩu súng bắn được nên không thuộc danh mục vũ khí.

Tại Bản kết luận giám định số 4142/KL-KTHS ngày 23/5/2025 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: 02 (hai) đồ vật bằng kim loại (01 vật màu cam, 01 vật màu xanh rêu) có hình dạng giống lựu đạn cao 8,9 cm, phần đế có đường kính 5,6 cm gửi giám định đều là mô hình lựu đạn dùng trong huấn luyện quân sự. Các mô hình lựu đạn này đều không có tính năng, tác dụng gây nổ vì không có kíp nổ và thuốc nổ. Đối chiếu với Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ thì 02 (hai) mô hình lựu đạn trên đều không thuộc vũ khí quân dụng.

Vật chứng thu giữ trong vụ án: 0,896 gam ma túy còn lại sau giám định; 01 túi vải màu xanh rin bên trong chứa 01 nắp nhựa màu xanh đường kính 03 cm gắn 01 nỏ thủy tinh dài 14 cm; 01 đoạn ống nhựa màu vàng nhạt, có dạng hình trụ tròn đường kính 0,6 cm, một đầu gắn đoạn ống nhựa màu xanh; 01 bật lửa bằng nhựa màu cam, tại vị trí phát lửa gắn 01 đoạn ống nhựa màu xanh - trắng gắn 01 đoạn lò xo; 02 mô hình lựu đạn; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen gắn sim số 0906591560, số EMEI 1: 866876064120997, số EMEI 2: 866876064120989; 03 súng nén hơi, 04 bộ phận chứa hơi nén, ống ngắm sử dụng cho các loại súng nén hơi và 37 viên đạn.

Tại Cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 17 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố tại Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q mức án từ 30 tháng đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (10/4/2025) .

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Đối với 03 súng nén hơi, 04 bộ phận chứa hơi nén, ống ngắm sử dụng cho các loại súng nén hơi và 37 viên đạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng đã chuyển cho Cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố Đà Nẵng điều tra, xử lý theo thẩm quyền nên không đề nghị xem xét.

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy:

+ 01 bì niêm phong (loại bì giấy dùng để gửi công văn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam) mặt trước có ghi số 197/PC09 và 04 hình con dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam, mặt sau có chữ ký phần giáp lai của Bùi Anh Tuấn, Lê Cao Trí, Lê Hoàng Vũ và 05 hình con dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam, bên trong là mẫu vật hoàn trả sau giám định.

+ 01 bì niêm phong (loại bì giấy loại dùng để gửi công văn của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Nam) mặt trước có ghi số 02, mặt sau có chữ ký phần giáp lai của Lê Hồng Duy, Nguyễn Văn Q, Đinh Văn Hạnh, Lê Thị Vân, Đồng Phước Trông và 04 hình con dấu đỏ của Công an xã B, bên trong có: 01 túi vải màu xanh rin, bên trong chứa 01 nắp nhựa màu xanh đường kính 03 cm gắn 01 nỏ thuỷ tinh dài 14 cm, 01 đoạn ống nhựa màu vàng nhạt, có dạng hình trụ tròn đường kính 0,6 cm, một đầu gắn đoạn ống nhựa màu xanh; 01 bật lửa nhựa màu cam, tại vị trí phát lửa gắn 01 đoạn ống nhựa màu xanh - trắng gắn 01 đoạn lò xo.

+ 01 bì niêm phong (loại bì giấy dùng để gửi công văn của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an) mặt trước có ghi số 4142/C09, mặt sau có chữ ký phần giáp lai của Bùi Anh Tuấn, Vương Văn Trị và 07 hình con dấu đỏ của Viện Khoa học hình sự. Bên trong có 02 đồ vật bằng kim loại không rõ hình (01 vật màu cam, 01 vật màu xanh rêu) có hình dạng giống lựu đạn cao 8,9 cm, phần đế có đường kính 5,6 cm.

+ Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen gắn sim số 0906591560; số IMEI 1 866876064120997; số IMEI 2: 866876064120989.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Đà Nẵng.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử kết luận:

Vào khoảng 08 giờ 15 phút ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại nhà của bị cáo Nguyễn Văn Q thuộc thôn 1, xã T, thành phố Đà Nẵng, bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,896 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 17 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Đà Nẵng và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Ma túy là chất gây nghiện có hại cho sức khỏe con người, sử dụng ma tuý là một trong những tệ nạn nguy hiểm nhất trong xã hội. Khi sử dụng chất ma túy sẽ làm cho con người có nhận thức lệch lạc, mơ hồ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần của người sử dụng; là tác nhân gây ra các tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Bị cáo nhận thức rõ tác hại, hậu quả của việc sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra thì mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử và đi chấp hành án nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng mà lại tiếp tục phạm tội, điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có ông nội tên Nguyễn N là Liệt sĩ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, nhưng cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt cho xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về những nội dung khác trong vụ án:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Đà Nẵng đã xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng là đúng quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông đã mua giúp ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để xử lý là phù hợp.

Đối với chị Lê Thị V, bị cáo mua ma túy về cất giữ tại nhà để sử dụng, chị Vân không biết nên không xử lý là phù hợp.

Đối với hành vi “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng đã chuyển nguồn tin về tội phạm đến Cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố Đà Nẵng để giải quyết theo thẩm quyền là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

. Về xử lý vật chứng:

Đối với 03 súng nén hơi, 04 bộ phận chứa hơi nén, ống ngắm sử dụng cho các loại súng nén hơi và 37 viên đạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng đã chuyển cho Cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố Đà Nẵng điều tra, xử lý theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 0,896 gam ma túy còn lại sau giám định; 01 túi vải màu xanh rin, bên trong chứa 01 nắp nhựa màu xanh đường kính 03 cm gắn 01 nỏ thuỷ tinh dài 14 cm; 01 đoạn ống nhựa màu vàng nhạt, có dạng hình trụ tròn đường kính 0,6 cm, một đầu gắn đoạn ống nhựa màu xanh; 01 bật lửa nhựa màu cam, tại vị trí phát lửa gắn 01 đoạn ống nhựa màu xanh - trắng gắn 01 đoạn lò xo; 02 đồ vật bằng kim loại không rõ hình (01 vật màu cam, 01 vật máu xanh rêu) có hình dạng giống lựu đạn cao 8,9cm, phần đế có đường kính 5,6 cm là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen gắn sim số 0906591560; số IMEI 1 866876064120997; số IMEI 2: 866876064120989 là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (10/4/2025).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) bì niêm phong (loại bì giấy dùng để gửi công văn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam) mặt trước có ghi số 197/PC09 và 04 hình con dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam, mặt sau có chữ ký phần giáp lai của Bùi Anh Tuấn, Lê Cao Trí, Lê Hoàng Vũ và 05 hình con dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam, bên trong là mẫu vật hoàn trả sau giám định.

+ 01 (một) bì niêm phong (loại bì giấy loại dùng để gửi công văn của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Nam) mặt trước có ghi số 02, mặt sau có chữ ký phần giáp lai của Lê Hồng Duy, Nguyễn Văn Q, Đinh Văn Hạnh, Lê Thị Vân, Đồng Phước Trông và 04 hình con dấu đỏ của Công an xã Bình Nguyên, bên trong có: 01 (một) túi vải màu xanh rin, bên trong chứa 01 nắp nhựa màu xanh đường kính 03 cm gắn 01 nỏ thuỷ tinh dài 14 cm, 01 đoạn ống nhựa màu vàng nhạt, có dạng hình trụ tròn đường kính 0,6 cm, một đầu gắn đoạn ống nhựa màu xanh; 01 bật lửa nhựa màu cam, tại vị trí phát lửa gắn 01 đoạn ống nhựa màu xanh - trắng gắn 01 đoạn lò xo.

+ 01 (một) bì niêm phong (loại bì giấy dùng để gửi công văn của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an) mặt trước có ghi số 4142/C09, mặt sau có chữ ký phần giáp lai của Bùi Anh Tuấn, Vương Văn Trị và 07 hình con dấu đỏ của Viện Khoa học hình sự. Bên trong có 02 đồ vật bằng kim loại không rõ hình (01 vật màu cam, 01 vật màu xanh rêu) có hình dạng giống lựu đạn cao 8,9 cm, phần đế có đường kính 5,6 cm.

- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen gắn sim số 0906591560; số IMEI 1 866876064120997; số IMEI 2: 866876064120989, được niêm phong trong 1 (một) bì (loại bì thư) mặt trước có ghi số 03, mặt sau có chữ ký phần giáp lai của Lê Hồng Duy, Nguyễn Văn Q, Đinh Văn Hạnh, Lê Thị Vân, Đồng Phước Trông và 04 hình con dấu đỏ của Công an xã B.

(Vật chứng trên đang được lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Đà Nẵng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/9/2025)

3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (11-12-2025).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ