vanban.org

Bản án 33/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 04 (Bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 06/8/2025). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HS-ST
Ngày 30-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Khánh Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phiến; ông Hoàng Ngọc Sông.

- Thư ký phiên toà: Bà Nông Kim Huệ - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang và điểm cầu thành phần: Trại Tạm giam số 2, Công an tỉnh Tuyên Quang, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 25/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 35/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh ngày: 26 tháng 9 năm 1997 tại: Tỉnh Tuyên Quang; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày: 14/10/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà x, đường H, tổ x, phường H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoài V, sinh năm 1962 và bà Lê Thị T, sinh năm 1959; có vợ là chị Hoàng Thị P, sinh năm 1991 và 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/8/2025, chuyển tạm giam từ ngày 15/8/2025; có mặt tại điểm cầu thành phần.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Hoàng P, sinh năm 2001; địa chỉ: Số nhà x, đường x, tổ x, phường H, tỉnh Tuyên Quang; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 4 năm 2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Nguyễn Văn H đã truy cập mạng xã hội Telegram, vào hội nhóm có tên “Con Đường Tơ Lụa” và dùng tài khoản cá nhân có tên “Ưng vệ” để đặt mua khoảng 30 gam (ba mươi gam) ma túy loại cần sa với giá 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng). H cung cấp địa chỉ nhà của mình để nhận hàng. Khoảng ba ngày sau, có một người giao hàng (không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại) mang ma túy đến giao tại nhà cho H. H biết là gói cần sa đã đặt mua nên không mở ra kiểm tra, H thanh toán trực tiếp cho người giao hàng số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng). Sau khi nhận hàng, H chia số ma túy cần sa thành nhiều túi nhỏ để tiện sử dụng, cất giấu toàn bộ trong ngăn thứ hai của tủ quần áo trong buồng ngủ rồi lấy quần áo phủ lên trên để tránh bị vợ phát hiện. Khi chia ma túy, H chỉ ước lượng chứ không cân chính xác khối lượng ma túy. Sau đó, H đã xóa hoàn toàn ứng dụng Telegram trên điện thoại của mình.

Đến khoảng tháng 6 năm 2025, trong quá trình làm việc tại Công ty Z (địa chỉ: thôn C, phường H, tỉnh Tuyên Quang), H quen biết Nguyễn Hoàng P. Biết P cũng sử dụng cần sa, H nói với P: “Anh có cỏ nhé, cần thì bảo anh”, ngụ ý là H có ma túy để bán.

Khoảng 12 giờ ngày 06/8/2025, P nhắn tin qua ứng dụng Messenger, tài khoản “Nguyễn Hoàng P” cho H, tài khoản “Nguyễn H” với nội dung: “Anh còn ở đấy không? Để cho em hai cháu”. H hiểu ý P muốn mua 02 gam (hai gam) cần sa nên trả lời: “Có đấy, 15 phút nữa nhá” và hẹn gặp tại khu vực dốc phía sau Công ty Đ, thuộc tổ x, phường H, tỉnh Tuyên Quang, cách nhà H khoảng 400 mét để bán ma túy.

Khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày, H lấy 02 (hai) túi nilon màu trắng có khóa vuốt, bên trong chứa cần sa (được cất trong tủ quần áo), mang đến địa điểm hẹn. Tại đây, H đưa 02 (hai) túi ma túy cho P và nói: “Hai chú, giá 500.000 đồng”. P đồng ý nhận ma túy và đưa cho H một tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Khi H vừa nhận tiền thì tổ công tác của Công an phát hiện, bắt quả tang. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang đã ra lệnh khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn H tại tổ x, phường H, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình khám xét đã thu giữ 01 (một) túi nilon màu trắng, có rãnh khóa đóng kín, bên trong chứa các cục thảo mộc nghi là cần sa, có khối lượng 16,813 gam (mười sáu phẩy tám một ba gam).

Ngày 06/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang tiến hành xét nghiệm đối với Nguyễn Văn H và Nguyễn Hoàng P, kết quả: Nguyễn Văn H và Nguyễn Hoàng P đều dương tính với chất ma túy. Quá trình điều tra xác định: Khoảng 01 tuần trước khi bị bắt quả tang, Nguyễn Văn H đã có hành vi một mình sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà riêng. Nguồn gốc ma túy H sử dụng là ma túy trong số 30 gam ma túy H đã mua trước đó. Ngày 05/8/2025, Nguyễn Hoàng P đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại phường H, tỉnh Tuyên Quang. Nguồn gốc ma túy P sử dụng là do P mua của một người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) tại khu vực Bến xe khách phường H, tỉnh Tuyên Quang.

Kết luận giám định số 968/KL-KTHS ngày 15/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận:

- Mẫu cần giám định ký hiệu M1 thu giữ của Nguyễn Hoàng P là chất ma tuý, loại Cần sa; khối lượng 4,468 gam (bốn phẩy bốn sáu tám gam).

- Mẫu giám định ký hiệu M2 thu giữ của Nguyễn Văn H là chất ma tuý, loại Cần sa; khối lượng 16,813 gam (mười sáu phẩy tám một ba gam).

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Nguyễn Văn H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hoàng P không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nói trên.

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang đã thu giữ số vật chứng gồm:

- 02 (hai) túi nilon màu trắng, mép viền túi màu đỏ, có rãnh khoá được đóng kín, kích thước (7x4)cm, bên trong có chứa các cục thảo mộc (không rõ hình thù). Tiến hành cân tịnh số cục thảo mộc có khối lượng là 4,468 gam (bốn phẩy bốn sáu tám gam).

- 01 (một) tờ tiền Việt Nam đồng, polime mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), có số seri: GC 19294731.

- 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh đen, nhãn hiệu OPPO, đã qua sử dụng, trên máy có thẻ sim số xxxxxxxxxx của Nguyễn Văn H.

- 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu vàng đen, phía sau có hình quả táo, đã qua sử dụng, trên máy có thẻ sim số xxxxxxxxxx của Nguyễn Hoàng P.

- 01 (một) túi nilon màu trắng, có rãnh khoá đóng kín, kích thước (22,5x33,5)cm, bên trong chứa các cục thảo mộc (không rõ hình thù). Tiến hành cân tịnh số cục thảo mộc có khối lượng là 16,813 gam (mười sáu phẩy tám một ba gam).

Vật chứng chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Tuyên Quang để quản lý theo quy định của pháp luật gồm:

- 01 (một) túi niêm phong mặt trước có: mã số PS3A 065614 có dòng chữ viết tay “Mua bán trái phép chất ma túy”; “Mẫu vật hoàn lại sau giám địnhˮ; chữ ký của các thành phần tham gia và 01 dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang; mặt sau có: chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

- 01 (một) túi niêm phong mặt trước có: mã số PS3A 065624 vụ Nguyễn Hoàng P, chữ ký của các thành phần tham gia và 01 dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang; mặt sau có: chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

- 01 (một) túi niêm phong mặt trước có: mã số PS3A 065625 vụ Nguyễn Văn H, chữ ký của các thành phần tham gia và 01 dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang; mặt sau có: chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

- 01 (một) điện thoại OPPO, màn hình cảm ứng, vỏ màu xanh xám, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, điện thoại không bật được nguồn nên không kiểm tra tình trạng sử dụng của máy; 01 (một) thẻ sim số xxxxxxxxxx ở bên trong điện thoại, trên bề mặt sim có số xxxxxxxxxx.

- 01 (một) điện thoại Iphone, màn hình cảm ứng bị nứt vỡ, vỏ màu vàng nhạt, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, điện thoại không bật được nguồn nên không kiểm tra tình trạng sử dụng của máy; 01 (một) thẻ sim số xxxxxxxxxx ở bên trong điện thoại, trên bề mặt sim có số xxxxxxxxxx. Điện thoại của Nguyễn Hoàng P.

- Số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), hiện đã được chuyển vào tài khoản của Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang mở tại Kho bạc Nhà nước khu vực 8.

Bản Cáo trạng số: 10/CT-VKSKV4 ngày 18/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang đã truy tố. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hoàng P vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và xin được nhận lại chiếc điện thoại Iphone.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang giữ nguyên quan điểm như tại Cáo trạng đã truy tố, sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 06/8/2025).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn H.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu, tiêu hủy đối với các vật chứng gồm:

- 01 (một) túi niêm phong mặt trước có: mã số PS3A 065614 có dòng chữ viết tay “Mua bán trái phép chất ma túy”; “Mẫu vật hoàn lại sau giám định”; chữ ký của các thành phần tham gia và 01 dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang; mặt sau có: chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

- 01 (một) túi niêm phong mặt trước có: mã số PS3A 065624 vụ Nguyễn Hoàng P, chữ ký của các thành phần tham gia và 01 dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang; mặt sau có: chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

- 01 (một) túi niêm phong mặt trước có: mã số PS3A 065625 vụ Nguyễn Văn H, chữ ký của các thành phần tham gia và 01 dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang; mặt sau có: chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

- 01 (một) thẻ sim số xxxxxxxxxx, trên bề mặt sim có số xxxxxxxxxx của bị cáo Nguyễn Văn H.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước đối với các vật chứng gồm:

- Số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), hiện đã được chuyển vào tài khoản của Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang.

- 01 (một) điện thoại OPPO, màn hình cảm ứng, vỏ màu xanh xám, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, điện thoại không bật được nguồn nên không kiểm tra tình trạng sử dụng của máy của bị cáo Nguyễn Văn H.

Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hoàng P 01 (một) điện thoại Iphone, màn hình cảm ứng bị nứt vỡ, vỏ màu vàng nhạt, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, điện thoại không bật được nguồn nên không kiểm tra tình trạng sử dụng của máy; 01 (một) thẻ sim số xxxxxxxxxx ở bên trong điện thoại, trên bề mặt sim có số xxxxxxxxxx.

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tham gia tranh luận, nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối lỗi về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; không có khiếu nại, tố cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hoàng P vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Sau khi thảo luận, xét thấy quá trình điều tra, anh Nguyễn Hoàng P đã có lời khai tại cơ quan điều tra, sự vắng mặt của anh P không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.

Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ để khẳng định: Khoảng 12 giờ đến 12 giờ 45 phút ngày 06/8/2025, tại khu vực đường H, thuộc tổ x, phường H, tỉnh Tuyên Quang, bị cáo Nguyễn Văn H đã có hành vi bán trái phép 4,468 gam (bốn phẩy bốn trăm sáu mươi tám gam) ma túy cần sa cho anh Nguyễn Hoàng P, số tiền thu lợi bất chính là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng).

Bị cáo Nguyễn Văn H là người có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định, bị cáo buộc phải biết việc mua bán trái phép chất ma túy là hành vi bị cấm theo quy định của pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý mua bán trái phép 4,468 gam (bốn phẩy bốn trăm sáu mươi tám gam) ma túy cần sa, mục đích để thu lợi bất chính. Hành vi phạm tội của bị cáo H đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác về ma túy cũng như làm gia tăng tệ nạn xã hội ở địa phương nơi bị cáo sinh sống. Hành vi mua bán trái phép 4,468 gam (bốn phẩy bốn trăm sáu mươi tám gam) ma túy cần sa của bị cáo Nguyễn Văn H được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định:

“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

(...)

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.ˮ

Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang truy tố bị cáo Nguyễn Văn H là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn H không có tiền án, tiền sự, trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt.

Về hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án đủ nghiêm khắc, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo, răn đe đối với bị cáo cũng như bảo đảm đấu tranh, phòng ngừa đối với loại tội phạm này tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy do bị cáo Nguyễn Văn H là lao động tự do, không có công việc, thu nhập ổn định; hành vi phạm tội của bị cáo H không liên quan đến chức vụ, nghề nghiệp của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với các vật chứng gồm:

- 01 (một) túi niêm phong mặt trước có: mã số PS3A 065614 có dòng chữ viết tay “Mua bán trái phép chất ma túy”; “Mẫu vật hoàn lại sau giám định”; chữ ký của các thành phần tham gia và 01 dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang; mặt sau có: chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

- 01 (một) túi niêm phong mặt trước có: mã số PS3A 065624 vụ Nguyễn Hoàng P, chữ ký của các thành phần tham gia và 01 dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang; mặt sau có: chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

- 01 (một) túi niêm phong mặt trước có: mã số PS3A 065625 vụ Nguyễn Văn H, chữ ký của các thành phần tham gia và 01 dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang; mặt sau có: chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

- 01 (một) thẻ sim số xxxxxxxxxx, trên bề mặt sim có số xxxxxxxxxx của bị cáo Nguyễn Văn H.

Số vật chứng này là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật không có giá trị; cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với các vật chứng gồm:

- Số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), hiện đã được chuyển vào tài khoản của Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang.

- 01 (một) điện thoại OPPO, màn hình cảm ứng, vỏ màu xanh xám, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, điện thoại không bật được nguồn nên không kiểm tra tình trạng sử dụng của máy của bị cáo Nguyễn Văn H.

Số vật chứng này là tiền do phạm tội mà có và công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội; cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Đối với vật chứng là 01 (một) điện thoại Iphone, màn hình cảm ứng bị nứt vỡ, vỏ màu vàng nhạt, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, điện thoại không bật được nguồn nên không kiểm tra tình trạng sử dụng của máy; 01 (một) thẻ sim số xxxxxxxxxx ở bên trong điện thoại, trên bề mặt sim có số xxxxxxxxxx: Chiếc điện thoại này là tài sản của anh Nguyễn Hoàng P; anh P sử dụng điện thoại để nhắn tin mua bán ma túy với bị cáo Nguyễn Văn H, tuy nhiên anh P chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy. Xét thấy hành vi của anh P không phải là hành vi phạm tội nên chiếc điện thoại anh P sử dụng để nhắn tin mua bán ma túy không được coi là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội; do đó cần trả lại cho anh Nguyễn Hoàng P.

Đối với hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H tàng trữ trái phép 16,813 gam (mười sáu phẩy tám một ba gam) ma túy cần sa và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đều không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Công an phường Hà Giang 1, tỉnh Tuyên Quang đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo Nguyễn Văn H về hành vi tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định của pháp luật.

Đối với hành vi của anh Nguyễn Hoàng P tàng trữ trái phép 4,468 gam (bốn phẩy bốn sáu tám gam) ma túy cần sa đã mua của bị cáo Nguyễn Văn H và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đều không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Công an phường Hà Giang 1, tỉnh Tuyên Quang đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Nguyễn Hoàng P về hành vi tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định của pháp luật.

Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Văn H qua ứng dụng mạng xã hội, người thanh niên giao ma túy cho bị cáo Nguyễn Văn H, người bán ma túy cho Nguyễn Hoàng P tại khu vực Bến xe khách phường H, tỉnh Tuyên Quang hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ; do đó Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, xét thấy: Ý kiến, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang tại phiên tòa là có căn cứ, cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 50, 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 04 (Bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 06/8/2025).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn H.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

2.1. Tịch thu, tiêu hủy đối với các vật chứng gồm:

- 01 (một) túi niêm phong mặt trước có: mã số PS3A 065614 có dòng chữ viết tay “Mua bán trái phép chất ma túy”; “Mẫu vật hoàn lại sau giám địnhˮ; chữ ký của các thành phần tham gia và 01 dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang; mặt sau có: chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

- 01 (một) túi niêm phong mặt trước có: mã số PS3A 065624 vụ Nguyễn Hoàng P, chữ ký của các thành phần tham gia và 01 dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang; mặt sau có: chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

- 01 (một) túi niêm phong mặt trước có: mã số PS3A 065625 vụ Nguyễn Văn H, chữ ký của các thành phần tham gia và 01 dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang; mặt sau có: chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

- 01 (một) thẻ sim số xxxxxxxxxx, trên bề mặt sim có số xxxxxxxxxx của bị cáo Nguyễn Văn H.

2.2. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước đối với các vật chứng gồm:

- Số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), hiện đã được chuyển vào tài khoản của đơn vị Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang, số tài khoản: 3949.0.1054090.00000 tại Kho bạc Nhà nước khu vực VIII, theo Giấy nộp tiền ngày 24/11/2025 tại Ngân hàng Vietinbank.

- 01 (một) điện thoại OPPO, màn hình cảm ứng, vỏ màu xanh xám, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, điện thoại không bật được nguồn nên không kiểm tra tình trạng sử dụng của máy của bị cáo Nguyễn Văn H.

2.3. Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hoàng P 01 (một) điện thoại Iphone, màn hình cảm ứng bị nứt vỡ, vỏ màu vàng nhạt, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, điện thoại không bật được nguồn nên không kiểm tra tình trạng sử dụng của máy; 01 (một) thẻ sim số xxxxxxxxxx ở bên trong điện thoại, trên bề mặt sim có số xxxxxxxxxx.

(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Tuyên Quang)

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ các điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ