vanban.org

Bản án 33/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Xử phạt bị cáo Trần Quang H: 02 (hai) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3- ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HS-ST
Ngày: 30/7/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Nga.

Ông Nguyễn Ngọc Anh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Vạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Đăng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3- Đồng Nai (Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai cũ) xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 106/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2025 và Thông báo số: 09/TB- TA ngày 23 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Quang H; Giới tính: Nam; Sinh ngày 06/5/2001, tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Thôn A, xã E, tỉnh Phú Yên); Nơi ở hiện nay: đường L, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là đường L, phường T, thành phố Hồ Chí Minh); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12.

Họ tên cha: Trần Văn K - sinh năm 1970, còn sống.

Họ tên mẹ: Trần Thị L - sinh năm 1979, còn sống.

Vợ, con: có vợ tên Hmira N - sinh năm 2004 và có 02 con sinh năm 2023 và con nhỏ sinh năm 2025.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt quả tang ngày 21/01/2025, chuyển tạm giam ngày 31/01/2025 theo Lệnh số 92/LTG của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại giam S - Công an tỉnh Đ - Phân trại tạm giam khu vực V.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 10/01/2025, Trần Quang H sử dụng điện thoại di động Iphone X đăng nhập tài khoản Facebook “Trần Huy” thấy có thông tin quảng cáo bán Cần sa nên H nhắn tin hỏi mua 2.000.000 đồng Cần sa, thì có người (không xác định được) trên Facebook phản hồi đồng ý và thỏa thuận sẽ giao Cần sa cho H tại phòng trọ của H, địa chỉ Khu dân cư T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đến tối cùng ngày, tài khoản Facebook trên nhắn tin cho H thông báo đã có người giao ma túy và nói H ra nhận. H đến khu vực phòng trọ thì thấy nam thanh niên mặc áo màu xanh, đi xe mô tô Sirius (không rõ biển số) đứng trước cổng. H đến hỏi thì nam thanh niên giao cho H 01 hộp giấy hình chữ nhật, H đưa cho nam thanh niên 2.000.000 đồng. Sau đó H cầm hộp giấy vào phòng trọ mở ra xem thì thấy bên trong có 04 túi nylon Cần sa, H cất giấu để sử dụng.

Đến ngày 18/01/2025, H tiếp tục sử dụng điện thoại Iphone X đăng nhập vào Facebook “Trần Huy” nhìn thấy tài khoản F “Long Hoàng” của Nguyễn Việt L1 - sinh năm 1999, ngụ tại ấp B, xã B, huyện V, tỉnh Đồng Nai hỏi mua 10 gram Cần sa. H nhắn tin cho L1 là có Cần sa bán với giá 2.000.000 đồng, L1 đồng ý. Ngày 20/01/2025, H điều khiển xe ô tô biển số 51D-452.19 chở vợ là Hmira N - sinh năm 2004 cùng con gái Trần Ngọc Thanh N1 - sinh năm 2023 về quê ăn tết. Trước lúc đi, H mang theo Cần sa, trong đó lấy 01 túi nylon bỏ trong túi đeo chéo của H, 03 túi nylon còn lại H vẫn để trong hộp giấy hình chữ nhật. H nhắn tin hỏi L1 địa điểm giao Cần sa, thì L1 hẹn gặp tại khu vực Trạm y tế xã B, thuộc ấp C, xã B, huyện V. Sau đó L1 đi vào Trạm y tế xã B thông tin cho chị Nguyễn Lê Ngọc Bảo T - Trưởng trạm y tế xã B biết là có đối tượng bán ma túy, đồng thời nhờ chị T gọi điện thoại báo Công an. Sau đó chị T gọi điện thoại báo tin cho Công an xã B, huyện V.

Đến 16 giờ 30 phút ngày 21/01/2025, H điều khiển xe ô tô biển số 51D-452.19 đến khu vực Trạm y tế xã B nhìn thấy L1 đi lại gần xe ô tô. H hỏi có phải L1 không thì L1 gật đầu xác nhận rồi L1 đến trước cửa xe ô tô bên lái, H hạ kính xuống và lấy hộp giấy hình chữ nhật đựng 03 túi nylon Cần sa đưa cho L1. L1 nhận lấy và ném 03 túi nylon Cần sa vào cổng Trạm y tế xã B, đồng thời L1 mở cửa xe ô tô của H và đứng giữ cửa với mục đích chờ Công an đến bắt giữ H. Khoảng 05 phút sau, lực lượng Công an xã B đến kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy chuyển giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V giải quyết theo quy định pháp luật.

Tang vật thu giữ:

- 03 túi nylon dạng zip bên trong có thảo mộc khô; 01 túi nylon dạng zip bên trong có thảo mộc khô.

- 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford biển số 51D-452.19; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X.

+ Tại Kết luận giám định chất ma túy số 187/KL ngày 25/01/2025 của Giám định viên Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận:

Mẫu thảo mộc khô (Ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy có khối lượng 12,4885gam, loại Cần sa.

Mẫu thảo mộc khô (Ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy có khối lượng 2,9501gam, loại Cần sa.

H1 lại đối tượng sau giám định trong niêm phong số 187/KL-KTHS.

+Kết quả xác minh xác định xe ô tô bán tải Ford biển số 51D-452.19 là tài sản của bà Lưu Thị T1 - sinh năm 1966, ngụ tại 2 T, phường I, quận E, thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Bà T1 giao xe Huỳnh Lưu Minh T2 - sinh năm1991, ngụ tại 2 T, phường I, quận E, thành phố Hồ Chí Minh sử dụng kinh doanh dịch vụ thuê xe tự lái. Ngày 20/01/2025, H thuê xe của Huỳnh Lưu Minh T2 về quê ăn tết, sau đó sử dụng làm phương tiện để bán ma túy, T2 không biết.

+ Xử lý tang vật, tài sản tạm giữ:

- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã giao trả xe ô tô biển số 51D-452.19 cho bà Lưu Thị Thắm .

-Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Đồng Nai đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ đối tượng còn lại sau giám định trong niêm phong số 187/KL-KTHS.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone X của Trần Quang H, sử dụng vào việc phạm tội.

Tại Cáo trạng số: 117/CT-VKSVC ngày 27/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Trần Quang H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Quang H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Trần Quang H mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Căn cứ Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 3- Đồng Nai tuyên:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ đối tượng còn lại sau giám định trong niêm phong số 187/KL-KTHS.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone X của Trần Quang H, sử dụng vào việc phạm tội.

Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Đồng Nai), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục; các văn bản tố tụng được tống đạt đầy đủ và hợp lệ. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.

Tội danh và hình phạt:

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quang H khai nhận: Ngày 21/01/2025, tại ấp C, xã B, huyện V, tỉnh Đồng Nai, Trần Quang H có hành vi bán trái phép 12,4885 gam ma túy loại Cần sa và tàng trữ trái phép 2,9501 gam ma túy, loại Cần sa, mục đích mua bán thì bị phát hiện bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đủ nhận thức được tác hại của ma túy và những quy định cấm của pháp luật với mọi hành vi phạm tội về ma túy nhưng vẫn cố ý mua bán trái phép chất ma túy. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của Trần Quang H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử cần phải áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo.

 Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

 Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn

năn hối cải; có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo hiện là lao

động chính trong gia đình, có 02 con còn quá nhỏ, gia đình có hoàn cảnh

khó khăn đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản

2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những nhận định trên, căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình để đưa ra một bản án đúng người, đúng tội và đúng pháp luật để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ đối tượng còn lại sau giám định trong niêm phong số 187/KL-KTHS.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone X của Trần Quang H, sử dụng vào việc phạm tội.

Về vấn đề khác:

- Đối với Nguyễn Việt L1 có hành vi đặt mua ma túy nhưng với mục đích để báo Công an bắt giữ đối tượng phạm tội bán ma túy, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý Nguyễn Việt L1 là phù hợp.

- Đối với người bán ma túy cho Trần Quang H hiện chưa xác định được, yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Nhận định của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tội danh và hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Trần Quang H: 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang ngày 21/01/2025.

2.Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định trong niêm phong số 187/KL-KTHS ngày 25/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ.

- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone X.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai (Nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai).

3.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Trần Quang H có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ