- Tranh chấp gì? án hình sự — "La Văn Chô - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo La Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – LAI CHÂU ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2025/HS-ST Ngày 22-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương
Các hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Thơm; Bà Hoàng Thị Anh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu tham gia phiên tòa: Ồng Tăng Hoàng Long - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2025/TLST - HS ngày 26 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HS ngày12 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: La Văn C, sinh ngày 05/5/1993 tại huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (nay là xã Mường Khoa). Nơi cư trú: Bản Mường Khoa, xã Mường Khoa, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (nay là Bản Mường Khoa, xã Mường Khoa, tỉnh Lai Châu); nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông La Văn Tha, sinh năm 1968 và bà Lường Thị On, sinh năm: 1970. Bị cáo có vợ Lù Thị Trang, sinh năm 1998 (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 28/5/2025, đến ngày 31/5/2025 bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Tân Uyên thuộc trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 28/5/2025, tại khu vực bản Mường Khoa, xã Mường Khoa, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (nay là bản Mường Khoa, xã Mường Khoa, tỉnh Lai Châu), La Văn C gặp một nam thanh niên tên Sự, C quen biết Sự từ trước nhưng không rõ nhân thân, lai lịch. Tại đây, C đưa cho Sự 100.000 đồng và nhờ Sự đi mua hộ Heorine về để sử dụng, Sự đồng ý. Sau đó, Sự điều khiển xe mô tô của Sự, còn C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, biển kiểm soát 29F4-1273, rồi cả hai cùng đi đến khu vực đồi chè thuộc bản Phiêng Tâm, xã Mường Khoa, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (nay là bản Phiêng Tâm, xã Mường Khoa, tỉnh Lai Châu). Đến nơi, Sự bảo C chờ và một mình đi tìm mua Heroine, Sự đi đâu C không biết. Khoảng 60 phút sau, Sự quay lại và đưa cho C 01 gói Heroine được gói bằng 01 mảnh nilon màu hồng, bên ngoài cùng gói bằng 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng. Nhận được Heroine, C cất giấu vào trong lớp lót mũ bảo hiểm và đội lên đầu, rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà, còn Sự đi đâu, làm gì C không biết. Đến 15 giờ cùng ngày, khi C đi về đến khu vực bản Phúc Khoa, xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (nay là bản Phúc Khoa, xã Mường Khoa, tỉnh Lai Châu) thì bị lực lượng Công an xã Phúc Khoa (nay là Công an xã Mường Khoa) phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ của La Văn C gồm 01 gói Heroine được gói bằng 01 mảnh nilon màu hồng, bên ngoài gói bằng 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, có khối lượng Heroine là 0,14 gam; 01 mũ bảo hiểm và 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, biển kiểm soát 29F4-1273.
Kết quả xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu bằng que thử nhanh vào lúc 16 giờ ngày 28/5/2025 đối với La Văn C cho kết quả: Dương tính.
Tại bản kết luận giám định số 442/KL-KTHS ngày 30/5/2025 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu, kết luận: Số chất bột, màu trắng thu giữ của La Văn C gửi giám định có khối lượng 0,14 gam là ma tuý, loại: Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 mũ bảo hiểm; 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, BKS 29F4-1273 thu giữ của La Văn C, hiện đang được bảo quản theo quy định.
Bản Cáo trạng số: 25/CT-VKS ngày 26/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu đã truy tố bị cáo La Văn C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 về sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo La Văn C từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 mũ bảo hiểm. Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, BKS 29F4-1273 thu giữ của La Văn C.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo La Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Hồi 15 giờ ngày 28/5/2025 tại bản Phúc Khoa, xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu Châu (nay là bản Phúc Khoa, xã Mường Khoa, tỉnh Lai Châu), La Văn C đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroin có khối lượng 0,14 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã Phúc Khoa (nay là Công an xã Mường Khoa) phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo La Văn C đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu truy tố bị cáo về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, quan điểm về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm quy định quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, tuy nhiên vì muốn có ma túy để sử dụng nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Vì vậy Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo nghề nghiệp làm ruộng, nguồn thu nhập thấp, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,14 gam Heroin đã gửi giám định không hoàn lại mẫu vật nên HĐXX không xem xét giải quyết. 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 mũ bảo hiểm cần tịch thu tiêu hủy; 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, BKS 29F4-1273 thu giữ của La Văn C. Xác định xe mô tô là tài sản hợp pháp của bị cáo, do bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các vấn đề khác: Về nguồn gốc 0,14 gam Heroin, La Văn C khai nhờ Sự đi mua hộ Heroine, Sự mua ở đâu C không biết. C quen biết Sự từ trước nhưng C không rõ nhân thân, lai lịch, nơi cư trú của Sự. Quá trình điều tra không xác định được người đàn ông theo C khai tên “Sự”, nên không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự; Điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 về sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo La Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo La Văn C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 28/5/2025.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư bên trong đựng 01 mảnh nilon màu hồng và 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 mũ bảo hiểm. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, BKS 29F4-1273 thu giữ của La Văn C
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/9/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lai Châu với Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 - Lai Châu).
4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND khu vực 2 - Lai Châu; - Phòng THADS khu vực 2 - Lai Châu; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lai Châu; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Lai Châu; - Phân trại tạm giamTân Uyên; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phương THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phương |