vanban.org

Bản án 33/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đình N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Đình N 02 năm 03 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; 02 năm 02 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của hai tội là 04 năm 05 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 07/6/2025. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Đình Nam phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. - phạm tội mua bán trái phép c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đình N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 - HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ơ
Bản án số: 33/2025/HS-ST
Ngày: 28/9/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đào Quang Khuyến.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lã Thị Nhung, ông Nguyễn Trọng Vần.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 12-Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 12, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31A/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2025, Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số 02/2025/TB-TA ngày 22/9/2025 đối với bị cáo:

Phạm Đình N, sinh ngày 08/11/1988; tại xã C, thành phố Hải Phòng; Nơi sinh và cư trú: Khu C, xã C, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Đình V và bà Phạm Thị H; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 44/HSST/2021 ngày 27/8/2021, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương (cũ), xử phạt 13 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/5/2022 và các quyết định khác của bản án).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/6/2025 đến ngày 10/6/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an thành phố H, có mặt.

* Người tham gia tố tụng khác: Anh Đoàn Xuân H1, chị Đỗ Lan A là những người làm chứng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phạm Đình N và Đoàn Xuân H1, sinh năm 2003, ở thôn N, xã Đ, thành phố Hải Phòng là bạn bè xã hội và đều là người sử dụng ma túy tổng hợp. Khoảng 14 giờ ngày 07/6/2025, H1 mượn điện thoại Iphone 14 Promax của chị Đỗ Lan A, sinh năm 2004, ở thôn T, xã Q, tỉnh Hưng Yên (bạn gái của H1) đăng nhập vào tài khoản Zalo “Đời Là Bể Khổ” của H1 nhắn tin và gọi đến tài khoản Z “Pham Hai” của N hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá và hỏi mượn N dụng cụ để sử dụng ma túy tại nhà N. N đồng ý, nhắn số tài khoản ngân hàng để H1 chuyển khoản tiền mua ma túy đồng thời gửi định vị nhà N cho H1. Hợp đăng nhập vào ứng dụng Banking, chuyển khoản 500.000 đồng từ số tài khoản 0857984678 ngân hàng M của H1 đến số tài khoản 101881171195 ngân hàng V1 của N. Sau khi nhận được tiền, N thuê xe ôm đến khu vực hồ T, xã L, tỉnh Bắc Ninh mua của một người đàn ông (không rõ tên, địa chỉ) 300.000 đồng ma túy tổng hợp dạng đá mang về nhà cất giấu. Khoảng 16 giờ 50 phút cùng ngày, H1 cùng chị Lan A đi taxi đến nhà N. Khi vào trong nhà, chị Lan A ngồi chơi ở bàn uống nước, còn N và H1 ngồi xuống nền nhà gần cửa ra vào (N đã để sẵn bộ dụng cụ sử dụng ma túy). N dùng đoạn ống hút một đầu vát nhọn xúc hết số ma túy từ túi đổ vào coóng thủy tinh đưa cho H1, H1 cầm bật lửa có sẵn dưới nền nhà hơ nóng coóng rồi một mình sử dụng bằng hình thức hút. Đến 17 giờ 10 phút cùng ngày, khi H1 vừa sử dụng ma túy xong thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ bộ D sử dụng ma túy, gồm: 01 chai nhựa màu xanh, nắp chai đục 02 lỗ nhỏ, một lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu vàng, một lỗ gắn với coóng thủy tinh, bên trong coóng có chất rắn màu nâu nhạt, đầu coóng còn lại nối với 01 đoạn ống hút màu trắng, đỏ; 01 vỏ túi nilon màu trắng viền màu trắng kích thước (2,5x3)cm bên trong bám dính chất rắn màu trắng, hồng; 01 đoạn ống hút màu hồng, đầu vát bám dính chất rắn màu trắng, hồng; 01 bật lửa ga màu đỏ và điện thoại di động Iphone 6s màu trắng, lắp sim số 0904873475 của N. Số tiền 500.000 đồng bán ma túy cho H1, N khai đã sử dụng nạp tiền chơi game hết.

Kết quả xét nghiệm xác định: Chị Đỗ Lan A âm tính với chất ma túy; Phạm Đình N và Đoàn Văn H2 dương tính với ma túy Methamphetamine. Quá trình điều tra N khai trước đó vài ngày, N sử dụng ma túy một mình tại khu vực cánh đồng thuộc địa phận tỉnh Bắc Ninh (không rõ địa điểm), dụng cụ sử dụng N đã vứt đi.

Kết luận giám định số 361/KL-KTHS ngày 10/6/2025 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận: Chất màu hồng bám dính bên trong túi nilon màu trắng viền khóa màu trắng và trong đoạn ống hút màu hồng một đầu vát; chất màu nâu nhạt bám dính trong coóng thủy tinh là ma túy, loại Methamphetamine.

Tại Bản cáo trạng số 19/CT-VKSKV12 ngày 12 tháng 9 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Phạm Đình N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 thực hành quyền công tố trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, điều kiện, nguyên nhân phạm tội, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Đình N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 251, khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Đình N 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 07 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 07 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của hai tội từ 04 năm 06 tháng tù đến 05 năm 02 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 07/6/2025.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật viễn thông, Tịch thu tiêu hủy 01 chai nhựa màu xanh nắp chai đục 02 lỗ nhỏ, 01 ống hút nhựa màu vàng, 01 coóng thủy tinh, 01 đoạn ống hút màu trắng đỏ, 01 vỏ túi nilon màu trắng viền màu trắng, 01 đoạn ống hút màu hồng đầu vát, 01 bật lửa ga màu đỏ, sim số 0904873475 và kiến nghị nhà mạng thu hồi các số viễn thông này theo quy định.

Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước giá trị chiếc điện thoại di động Iphone 6s màu trắng. Truy thu số tiền 500.000 đồng của bị cáo N.

- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 16 giờ 50 phút đến 17 giờ 10 phút ngày 07/6/2025, tại nhà ở của bị cáo Phạm Đình N ở khu C, xã C, thành phố Hải Phòng, N đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy Methamphetamine với số tiền 500.000 đồng cho Đoàn Xuân H1. Sau đó, N còn chuẩn bị dụng cụ và giúp sức cho H1 sử dụng ma túy (mua của N) tại nhà của N thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về quản lý đối với các chất ma túy, đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, an toàn xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và bị nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi bán ma túy cho người khác, mục đích bán kiếm lời, thu lời bất chính. Số ma túy bị cáo bán kiếm lời là loại ma túy Methamphetamine, bán với số tiền 500.000 đồng cho Đoàn Xuân H1. Như vậy hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo còn chuẩn bị bộ dụng cụ sử dụng ma túy như bật lửa, chai nhựa, coóng thủy tinh, ống hút..... để giúp sức cho Đoàn Xuân H1 thực hiện việc sử dụng ma túy tại nhà của bị cáo nên hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Về nhân thân, bị cáo có nhân thân xấu. Năm 2021 bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xử phạt 13 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân, nay lại tiếp tục phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phục vụ công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước cũng như sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo đang bị tạm giam không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với số mẫu vật được đựng trong 02 phong bì niêm phong số 361/KL-KTHS của phòng kỹ thuật - Công an tỉnh H, 01 chai nhựa màu xanh, 02 đoạn ống hút, 01 bật lửa ga là vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a,b,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 điện thoại di động Iphone 6s màu trắng, lắp sim số 0904873475 có nhiều vết nứt, vỡ màn hình đã qua sử dụng. Đây là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo sử dụng để liên lạc việc mua bán ma túy. Vì vậy, cần tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước giá trị chiếc điện thoại; 01 thẻ sim (vật lý) số 0904873475 không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu huỷ. Đối với số tiền 500.000 đồng tiền bị cáo bán ma túy cho H1 là tiền phạm tội mà có do vậy cần truy thu, tịch thu số tiền này nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với số thuê bao 0904873475 cần yêu cầu doanh nghiệp V2 thu hồi số thuê bao này.

Đối với số tiền 100.000 đồng trong tài khoản số 101881171195 của Phạm Đình N mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C (V1) hiện bị phong tỏa. Tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản số 5279/LPT-CSMT ngày 12/8/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố H để đảm bảo thi hành án.

. Quá trình điều tra không xác định được người bán ma túy cho bị cáo N; không xác định được thời gian và địa điểm bị cáo N sử dụng ma túy; chị Đỗ Lan A không biết việc Đoàn Xuân H1 mượn điện thoại của chị để chuyển khoản tiền mua ma túy, không biết việc N bán ma túy cho H1 và chuẩn bị dụng cụ cho H1 sử dụng ma túy, không tham gia sử dụng ma túy nên không có căn cứ xử lý. [8]. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đoàn Xuân H1, ngày 27/7/2025, Công an thành phố H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H1 theo quy định.

Về án phí: Bị cáo Phạm Đình N bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a,b,c khoản 2 Điều 106, Điều 129, Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật viễn thông, Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đình N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Đình N 02 năm 03 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; 02 năm 02 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của hai tội là 04 năm 05 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 07/6/2025.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 02 (hai) phong bì niêm phong số: 361/KL-KTHS của phòng K - Công an tỉnh H, còn nguyên vẹn, ký hiệu T1, T2 (bên trong có 01 đoạn ông hút màu hồng, 01 coóng thủy tinh, 01 vỏ túi ninon và 02 vỏ phong bì); 01 chai nhựa màu xanh, nắp chai đục hai lỗ nhỏ; 02 đoạn ống hút kích thước khác nhau (màu vàng, màu đỏ) 01 bật lửa ga màu đỏ.

Tịch thu, phát mại nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 6s màu trắng, có nhiều vết nứt, vỡ màn hình đã qua sử dụng.

Tịch thu, tiêu huỷ: 01 sim điện thoại số 0904.873.475.

Đề nghị Công ty V3 thu hồi số thuê bao số 0904873475.

Truy thu số tiền 500.000 đồng của bị cáo Phạm Đình N nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 100.000 đồng trong tài khoản số 101881171195 của Phạm Đình N mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C (V1) hiện bị phong tỏa. Tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản số 5279/LPT-CSMT ngày 12/8/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố H để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng hiện đang được quản lý tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực A - Hải Phòng. Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực A - Hải Phòng).

4. Về án phí: Bị cáo Phạm Đình N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ