- Tranh chấp gì? án hình sự — "HS BA33 Đinh Chi K và ĐP tàng trữ trái phép chất MT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Đinh Chí K, Lê Huy B, Hoàng Văn B1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2025/HS-ST Ngày 10-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Bùi Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Đại Đồng
ông Nguyễn Tiến Bộ
- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Ngọc Bích – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Duy Luân – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Đinh Chí K, sinh năm 1987 tại xã V, huyện M, thành phố H; nơi cư trú: thôn Vạn Phúc, xã V, huyện M, thành phố H; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con Đinh Văn K1, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị Q (đã chết); vợ là Nghiêm Thị Kim C (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự, nhân thân: không.
Bị tạm giữ từ ngày 16/12/2024, chuyển tạm giam ngày 25/12/2024. Có mặt.
2. Lê Huy B, sinh năm 1987 tại xã V, huyện M, thành phố H; nơi cư trú: thôn Vạn Phúc, xã V, huyện M, thành phố H; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tùng L và bà Nguyễn Thị L1; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không.
Tiền án:
+ Bản án số 20/2012/HSST ngày 29/3/2012, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội xử phạt 05 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/4/2016, chưa hoàn thành việc nộp số tiền thu lời bất chính là 6.100.000 đồng, chưa được xóa án tích.
+ Bản án số 189/2018/HS-ST ngày 15/8/2018, Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/10/2019, đã nộp án phí, chưa được xóa án tích do phạm tội mới.
+ Bản án số 179/2021/HS-ST ngày 29/9/2021 Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, TP Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/9/2023, đã nộp án phí, chưa được xóa án tích.
Nhân thân: Bản án số 60/2010 /HSST ngày 28/9/2010, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2011, đã nộp án phí, đã được xóa án tích.
Bị tạm giữ từ ngày 16/12/2024, chuyển tạm giam ngày 25/12/2025. Có mặt.
3. Hoàng Văn B1, sinh năm 1968 tại xã V, huyện M, thành phố H; nơi cư trú: thôn Đốc Kính, xã V, huyện M, thành phố H; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T (Đã chết) và bà Đinh Thị K2, sinh năm 1942; vợ là Phạm Thị N, sinh năm 1969; có 03 con (con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2005); tiền sự, nhân thân: Không.
Tiền án: Bản án số 05/2012/HSST ngày 17/01/2012, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xử phạt 10.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp tiền án phí và chưa chấp hành xong hình phạt chính của bản án, chưa được xóa án tích.
Bị tạm giữ từ ngày 17/12/2024, chuyển tạm giam ngày 25/12/2025. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Phạm Thanh L3, sinh năm 1999. Vắng mặt
Nơi cư trú: Tập thể Đ, phường Y, quận T, thành phố H.
+ Bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1958. Vắng mặt
Nơi cư trú: số 34, ngõ 444 Đ, quận B, thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 40 phút ngày 16/12/2024, tại khu vực thôn Vạn Phúc, xã Vạn Kim, Công an xã Vạn Kim phát hiện, bắt quả tang và thu giữ tại mặt đường cạnh chỗ của Đinh Chí K, sinh năm 1987 và Lê Huy B, sinh năm 1987, cùng trú tại thôn Vạn Phúc, xã Vạn Tín, huyện Mỹ Đức 01 gói giấy bạc, bên trong chứa chất bột màu trắng. Bản thân K và B khai nhận đó là ma túy Heroin do K và B mua về để sử dụng cùng Hoàng Văn B1 sinh năm 1968, trú tại thôn Đốc Kính, xã Vạn Tín, huyện Mỹ Đức.
Tang vật thu giữ:
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, BKS: 30F1-3289.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel. IMEI 1: 358414102283554, IMEI2: 358414102583789, bên trong có sim số 0975849069 và 0328923357 của Lê Huy B.
Ngày 16/12/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số 1773/QĐ-ĐTTH trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội giám định Chất ma túy thu giữ trong vụ án.
Tại Kết luận giám định số 8848/KL-KTHS ngày 25/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội, kết luận:
“Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,124 gam.”
Tiếp tục vào hồi 03 giờ 00 phút ngày 17/12/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Đức tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với: Hoàng Văn B1, thu giữ 01 điện thoại Sam Sung màu xanh, IMEI1: 356347111646803, IMEI2: 356348111646801, bên trong chứa sim số 0378563816.
Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra người của Đinh Chí K, Lê Huy B và kiểm tra xe máy Honda Wave màu trắng, BKS: 30F1-3289, kết quả không phát hiện, thu giữ gì liên quan đến vụ án.
Tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 16/12/2024 đối với Hoàng Văn B1, Lê Huy B, Đinh Chí K, kết quả: Dương tính với chất ma túy có trong cơ thể.
Cơ quan điều tra tiến hành mở niêm phong kiểm tra điện thoại Sam Sung màu xanh, IMEI1: 356347111646803, IMEI2: 356348111646801, bên trong chứa sim số 0378563816 của Hoàng Văn B1, kết quả:
Cuộc gọi đến: số 0888282887 lưu trong danh bạ là “Phêu” gọi đến 02 lần vào 14:53 và 14:58 ngày 16/12/2024.
Cuộc gọi đi: “Phêu” gọi đi lúc 14:34 ngày 16/12/2024; “Anh” gọi đi lúc 11:26 ngày 16/12/2024
Tin nhắn và zalo không có dữ liệu.
Cơ quan điều tra tiến hành mở niêm phong kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Mastel. IMEI 1: 358414102283554, IMEI2: 358414102583789, bên trong có sim số 0975849069 và 0328923357 của Lê Huy B, kết quả: không có cuộc gọi đến, gọi đi hay tin nhắn nào.
* Quá trình điều tra làm rõ như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 16/12/2024, Hoàng Văn B1 gọi điện thoại từ số 0378563816 đến số 0888282887 của Đinh Chí K nói đến đón B1 lên xã Vạn Kim (nay là xã Vạn Tín) để tìm mua ma túy về sử dụng. K đồng ý và điều khiển xe máy BKS 30F1-3289 đến đón B1 đi, cả hai đi đến thôn Vạn Phúc, xã Vạn Tín, huyện Mỹ Đức thì gặp Lê Huy B, K dừng xe, B1 đưa cho B số tiền 150.000 đồng với mục đích để mua ma túy về cùng sử dụng. B1 ở lại khu vực Cầu Phao thôn Vạn Phúc, còn K điều khiển xe máy chở B đến khu vực bờ đê thuộc xã Hòa Phú, huyện Ứng Hòa. K gọi điện từ số thuê bao của K là “0888282887” đến số thuê bao lưu trong máy là “ok” (số này do K đã lưu từ trước của một người nam giới không rõ tên tuổi địa chỉ) hỏi mua 150.000 đồng ma túy Heroin. Khoảng 05 phút sau, người này đến, B đưa tiền cho K trả tiền cho người bán ma túy và nhận lại 01 gói giấy bạc, bên trong chứa chất bột màu trắng. K và B tiếp tục đi đến khu vực bờ sông thuộc huyện Ứng Hòa, tại đây B có nói với K muốn sử dụng một phần ma túy trong gói giấy bạc vừa mua, nhưng khi đi tìm địa điểm sử dụng thì không có dụng cụ dùng nên B đưa lại gói ma túy cho K, để ở yên sau xe máy. Sau đó cả hai đang đi về nơi B1 đứng đợi để cùng nhau sử dụng nhưng khi K, B đi về đến khu vực thôn Vạn Phúc, xã Vạn Tín, huyện Mỹ Đức thì bị lực lượng Công an kiểm tra. Gói ma túy để ở yên xe máy bị rơi xuống mặt đường cạnh chỗ K, B đứng thì bị lực lượng công an phát hiện, thu giữ lập biên bản niêm phong.
Ngày 30/12/2024, Cơ quan điều tra ra Lệnh thu giữ điện tín thuê bao số 0378563816. Ngày 15/01/2025, Tập đoàn Công nghiệp viễn thông Quân đội có Công văn phúc đáp số 535/CNVTQĐ-CTr, bảng kê chi tiết phản ánh: chủ thuê bao số 0378563816 là Nguyễn Quang Thuận, sinh năm 1980, địa chỉ: Khóm 02, phường Cái Vồn, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Ngày 16/12/2024, từ 14:34:42 đến 14:59:01 có gọi đi đến số 0888282887 ba lần. Hoàng Văn B1 khai đã sử dụng số 0378563816 từ lâu nhưng không đăng ký chủ sở hữu với số này. Nguyễn Quang Thuận khai không sở hữu và không sử dụng số 0378563816 và không quen biết Hoàng Văn B1.
Ngày 21/01/2025, Cơ quan điều tra ban hành Công văn số 70/CV-CSĐT đề nghị Tập đoàn Bưu chính Viễn thông cung cấp thông tin số thuê bao 0888282887. Ngày 04/02/2025, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông có Công văn số 929/VNPT-PCTT-TL cung cấp: chủ thuê bao 0888282887 là Đinh Chí K, Bảng kê chi tiết cuộc gọi đến, gọi đi từ 07h00 ngày 15/12/2024 đến 07h00 ngày 17/12/2024 không hiển thị số gọi đến, gọi đi.
Đối với điện thoại của Đinh Chí K, K khai đã bị mất trên đường đi từ chỗ mua ma túy về, không nhớ mất ở vị trí cụ thể nào. K khai không nhớ rõ số điện thoại của người đã bán ma túy cho K.
Cáo trạng số 28/CT-VKS-MĐ ngày 26/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố Đinh Chí K và Hoàng Văn B1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. truy tố Lê Huy B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo K B1, B đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Ngày 16/12/2024 do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên B1 gọi điện cho K đến đón B1 lên xã Vạn Tín để tìm mua ma tuý về sử dụng. K đồng ý và điều khiển xe máy đến đón B1, khi cả hai đi đến thôn Vạn Phúc, xã Vạn Tín thì gặp B, K dừng xe và rủ B cùng sử dụng ma túy và B nhất trí, do xe máy của B1 không chở được 03 người nên B1 dừng lại để đợi K và B đi mua ma túy về cùng sử dụng, B1 đưa cho B 150.000 đồng để đi mua ma tuý. Sau đó, K điều khiển xe máy chở B đến khu vực bờ đê thuộc xã Hòa Phú, huyện Ứng Hòa gọi điện thoại cho một người không rõ tên tuổi địa chỉ hỏi mua 150.000 đồng ma tuý loại Heroin. B đưa cho K trả tiền cho người bán ma tuý và nhận lại 01 gói giấy bạc bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma tuý. Trên đường đi về cách chỗ B1 đứng đợi khoảng 500 m ở khu vực Cầu Phao thôn Vạn Phúc thì K, B bị lực lương Công an kiểm tra, bắt quả tang.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị mức hình phạt đối với:
- Bị cáo Đinh Chí K từ 18 -24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 16/12/2024.
- Bị cáo Hoàng Văn B1 từ 24-30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 16/12/2024.
- Bị cáo Lê Huy B từ 05 năm đến 06 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 17/12/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do không có điều kiện thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của các bị cáo.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A11, vỏ màu xanh thu giữ của Hoàng Văn B1;
- Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel, vỏ màu đen, thu giữ của Lê Huy B.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Các bị cáo đều nhận tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Đức và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người có liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại. Có đủ căn cứ xác định, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét tội danh: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Đinh Chí K, Lê Huy B, Hoàng Văn B1 đã thành khẩn khai nhận đã thống nhất rủ nhau đi mua ma túy vào ngày 16/12/2024. Khi K và B đã mua được 01 gói ma túy với giá 150.000 đồng của người không quen biết và trên đường mang ma túy về chưa kịp sử dụng thì đã bị bắt. Kết quả giám định là ma tuý loại Heroin khối lượng 0,124 gam. Các bị cáo có đầy đủ năng lực, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Đinh Chí K, Hoàng Văn B1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đúc đã truy tố K và B điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Hành vi của bị cáo Lê Huy B tàng trữ trái phép ma tuý trong khi trước đó nhiều lần phạm tội và chưa được xóa án tích nên phạm tội lần này thuộc trường hợp“Tái phạm nguy hiểm” và bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố bị cáo theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.
Xét tính chất của vụ án: Đây là vụ án có tính nguy hiểm cho xã hội bởi hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Tội phạm còn là nguyên nhân phát sinh thêm nhiều tệ nạn trong xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, kinh tế của bản thân và xã hội, còn có nguy cơ làm lây truyền nhiều loại bệnh và tội phạm khác, xâm phạm đến trật tự trị an, an ninh thôn xóm, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân.
Xét vai trò và hành vi của các bị cáo:
Xem xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy: B1 là người khởi sướng và bỏ tiền mua ma túy, K và B trực tiếp mua ma túy nên cả 03 bị cáo có vai trò ngang nhau trong vụ án. Tuy nhiên bị cáo B phạm tội khi đang thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên bị truy tố theo khản 2 điều 249 BLHS là đúng pháp luật.
Xét mức độ hành vi của các bị cáo: Các bị cáo đều biết rất rõ ma túy là chất gây nghiện bị nhà nước nghiêm cấm dưới mọi hành vi về ma túy do tính độc hại của ma túy đối với sức khỏe con người và ảnh hưởng nặng nề cho xã hội đối với mọi mặt từ con người, kinh tế và an ninh trật tự xã hội. Luôn mang tính thời sự xuất phát từ tính chất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cao của ma túy cho xã hội, gây mất trật tự trị an, xã hội tại địa phương. Nhưng các bị cáo vẫn bất chấp, phạm tội là thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó, HĐXX nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bảo đảm tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo K và bị cáo B1 bị truy tố phạm tội tại khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự nhưng B1 phạm tội lần này bị áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm do vậy cần áp dụng mức án đối với B1 nghiêm khắc hơn K
Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, riêng bị cáo K không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo là lao động tự do, nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Cần xử lý vật chứng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức là có căn cứ.
Về các vấn đề khác:
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, có số máy: JA39E0188573, số khung: RLHJA3903HY188497, BKS: 30F1-3289 thu giữ của Đinh Chí K. Điều tra xác định, đăng ký xe mang tên Phan Thanh Long, Long khai có cho bạn là Đinh Chí K mượn chiếc xe trên vào tháng 10/2024, Long không biết việc K dùng chiếc xe trên để đi mua ma túy. Tra cứu vật chứng, chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh Phan Thanh Long là phù hợp.
Đối với chiếc Biển kiểm soát: 30F1-3289, qua xác minh chủ đăng ký là Nguyễn Thị Kim Thanh, sinh năm 1958, trú tại số 34, ngõ 444, Đội Cấn, quận Ba Đình, TP Hà Nội. Chị Thanh khai vào năm 2008 có mua 01 chiếc xe máy SAPPHIRE và đăng ký BKS trên nhưng đến năm 2024 chị đã làm rơi mất BKS của xe và chị đã bán chiếc xe máy trên cho một cửa hàng nhưng không làm giấy tờ mua bán gì, đến nay chị cũng không nhớ địa điểm của cửa hàng mua xe. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Thanh Biển kiểm soát xe nói trên là phù hợp.
Đối với người nam giới bán ma túy cho Đinh Chí K, K không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ của người này, không nhớ số điện thoại do máy điện thoại bị mất, nên không có cơ sở xác minh để xử lý người bán ma túy trong vụ án này.
Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Đinh Chí K, Lê Huy B, Hoàng Văn B1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Đinh Chí K 18 ( mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 16/12/2024.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn B1 24 (hai B1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 17/12/2024.
Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Huy B 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 16/12/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì mẫu vật có chữ ký họ tên đối tượng cá bị cáo và giám định viên niêm phong, chữ ký họ tên của cán bộ niêm phong. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A11, vỏ màu xanh thu giữ của Hoàng Văn B1;
+Trả lại 01 điện thoại di động Mastel, vỏ màu đen cho Lê Huy B.
Vật chứng có đặc điểm và số lượng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/5/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Hà Nội và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.
- Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 … về án phí và lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan đến mình trong Bản án, trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo pháp luật. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP. Hà Nội;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND TP. Hà Nội;
- VKSND huyện Mỹ Đức;
- Cơ quan CSĐT Công an TP Hà Nội;
- Cơ quan THAHS huyện Mỹ Đức;
- Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
- UBND xã Vạn Tín (thay TBKQ xét xử);
- Bị cáo;
Bùi Thị Hồng
- Lưu: HSVA, VT. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thị Hồng
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - VKSND TP. Hà Nội; - VKSND huyện Mỹ Đức; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Mỹ Đức; - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức; - UBND xã Hợp Tiến; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Đức Hiệp |