- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng a D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vừ A D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 33/2025/HS-ST Ngày 24-4-2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Nhung
Các hội thẩm nhân dân: Ông Sầm Văn Nưỡng
Ông Lành Văn Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Dần-Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Thào A Di - Kiểm sát viên.
Ngày 24/4/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành xét xử sơ thẩm lưu động, trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2025/TLST-HS ngày 14/3/2025 tại hai điểm cầu, điểm cầu trung tâm: Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điên Biên và điểm cầu thành phần: Trụ sở Ủy ban nhân dân xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST-HS ngày 10/4/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vừ A D; Sinh năm 1975 tại xã N, huyện S, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản H, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hoá: 2/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vừ Sua Th (đã chết) và bà Giàng Thị M (đã chết); Bị cáo có vợ là Vàng Thị L (sinh năm 1977) và có 05 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến ngày 24/12/2024, bị tạm giam từ 24/12/2024 đến nay, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lường Văn B, trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 15/12/2024, Vừ A D một mình đi bộ từ lán nương của gia đình ở bản N, xã Ch, huyện M xuống khu vực bản T, xã M, huyện M tìm mua ma túy về sử dụng, khoảng 16 giờ cùng ngày khi đi đến khu vực giữa bản T, D gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt 03 cục nhỏ Heroine và 03 viên Methamphetamine với giá tiền 300.000 đồng. Sau khi đưa ma túy cho D người đàn ông lạ mặt đi đâu D không biết, còn D cất giấu số ma túy vừa mua được ở trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ quay về lán nương của gia đình, khoảng 18 giờ cùng ngày D về đến lán nương, D dùng tay tách lấy một ít Heroine ra để sử dụng, sau đó đến tối trước khi đi ngủ D cũng tách thêm một ít Heroine nữa để sử dụng, số ma túy còn lại D cất giấu dưới chăn ở giường ngủ của D. Đến 10 giờ 20 phút ngày 16/12/2025 khi D chuẩn bị lấy ma túy ra sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé phát hiện, bắt quả tang, thu giữ dưới chăn trên giường ngủ của D 03 cục Heroine được gói trong mảnh nilon màu xanh có khối lượng 1,355 gam, 03 viên Methamphetamine được gói trong mảnh nilon trong suốt có khối lượng 0,295 gam. D khai nhận do nghiện ma túy nên mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân.
Kết luận giám định số 1843/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Vừ A D có khối lượng 1,355 gam chất bột màu trắng là chất ma túy: Loại: Heroine, ký hiệu M1; Vật chứng thu giữ của Vừ A D có khối lượng 0,295 gam các viên nén màu hồng là chất ma túy: Loại: Methamphetamine, ký hiệu M2; Hoàn lại đối tượng giám định: M1 là 1,29 gam và M2 là 0,25 gam.
Cáo trạng số 10/CT-VKS-MN ngày 12/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Vừ A D để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé giữ nguyên Cáo trạng truy tố, phần luận tội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, về hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy số ma túy được hoàn lại sau giám định (M1 là 1,29 gam và M2 là 0,25 gam), 01 mảnh nilon màu xanh và 01 mảnh nilon trong suốt; Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến gì về hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên, nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, nhất trí với luận tội về tội danh; điều khoản áp dụng; hình phạt bổ sung; xử lý vật chứng vụ án và án phí; phần hình phạt chính đề nghị hội đồng xét xử xem xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã tóm tắt ở trên và đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo nhất trí với luận cứ bào chữa của người bào chữa, không tranh luận gì với Luận tội của Viện kiểm sát. Lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét hành vi phạm tội và những căn cứ xác định tội danh của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Vừ A D khai: Khoảng 14 giờ ngày 15/12/2024 bị cáo mua được của một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt 1,355 gam Heroine và 0,295 gam Methamphetamine với giá tiền 300.000 đồng tại bản T, xã M, huyện M. Sau khi mua được ma túy người đàn ông lạ mặt đi đâu bị cáo không biết, còn bị cáo cất giấu số ma túy vừa mua được ở trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ quay về lán nương của gia đình. Đến 10 giờ 20 phút ngày 16/12/2025 khi bị cáo chuẩn bị lấy ma túy ra để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé phát hiện, bắt quả tang. Tổ công tác thu giữ của bị cáo 1,355 gam Heroine và 0,295 gam Methamphetamine. Bị cáo khai nhận mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân do bản thân nghiện ma túy. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai và các bản cung có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với Kết luận giám định, Kết luận điều tra, Cáo trạng truy tố và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định hành vi tàng trữ trái 1,355 gam Heroine và 0,295 gam Methamphetamine (Tổng hai chất ma túy là 1,650 gam) với mục đích để sử dụng của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố bị cáo để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất vụ án: Tội phạm mà bị cáo thực hiện là tội nghiêm trọng về ma túy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Người bào chữa đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên cần xử phạt bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo khó khăn, bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản gì có giá trị, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ của người này, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh nên không có cơ sở để xử lý.
Về xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy được hoàn lại sau khi đã giám định là gói M1: 1,29 gam Heroine, gói M2: 0,25 gam Methamphetamine, 01 mảnh nilon màu xanh và 01 mảnh nilon trong suốt, xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành, vật chứng không có giá trị sử dụng cần căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người bào chữa. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ và điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vừ A D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vừ A D 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 16/12/2024.
3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ số ma túy còn lại sau khi đã giám định là gói M1: 1,29 gam Heroine, gói M2: 0,25 gam Methamphetamine, 01 mảnh nilon màu xanh và 01 mảnh nilon trong suốt. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/3/2025 giữa Công an tỉnh Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/4/2025).
| Nơi nhận: - Phòng Thanh tra, Kiểm tra và Thi hành án (TAND tỉnh Điện Biên); - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Mường Nhé; - Phân trại tạm giam khu vực huyện Nậm Pồ, trại giam công an tỉnh Điên Biên; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Điên Biên; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Điên Biên; - Chi cục THADS huyện Mường Nhé; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; Người bào chữa; - Lưu HS, HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Thị Nhung |