vanban.org

Bản án 33/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên Tuyên án 20/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vàng Vả D phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm g Khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Vàng Vả D 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30 tháng 8 năm 2024. Vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng Vả D - tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vàng Vả D phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG ẢNG
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HS-ST
Ngày: 20-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Nguyễn Văn Hùng

2. Ông: Hoàng Văn Tiến

Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hồng Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Trí Giáp - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2025/TLST-HS, ngày 27 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST – HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo: Họ và tên: Vàng Vả D; Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 01/01/1957, tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản KN, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: Không; Giới tính: Nam; Dân tộc: Mông; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Vàng Sua D (đã chết) và con bà Mùa Thị O (đã chết); Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Bị cáo có vợ là chị Hờ Thị B, sinh năm 1959; Bị cáo có 08 người con, con lớn nhất sinh năm 1979 (đã chết), con nhỏ nhất sinh năm 1996; Tiền án; tiền sự: không. Nhân thân: Đã bị kết án: Ngày 17/4/2017 bị Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Ngày 22/9/2018 chấp hành xong án phạt tù, đã được xóa án tích; chưa bị xử lý hành chính; Bị cáo bị tạm giữ, giam tại nhà Tạm giữ Công an huyện Mường Ảng từ ngày 30/8/2024 cho đến nay được trích xuất, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Vàng Vả D: Bà Hà Thị Thuận - Trợ giúp viên pháp lý. Nơi công tác: Chi Nhánh trợ giúp pháp lý số 3 thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì hành vi phạm tội của Vàng Vả D được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 30/8/2024 Vàng Vả D đi bộ một mình từ nhà ở bản KN, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên lên khu vực bản Có, xã Mường Lạn, huyện Mường Ảng để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến khu rừng thuộc địa phận bản Có, xã Mường Lạn, huyện Mường Ảng, Vàng Vả D gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, tự giới thiệu tên là Nhìa 04 gói Heroine, trong đó 02 gói được gói bằng các mảnh túi nilon màu xanh, 01 gói được gói bằng mảnh túi nilon màu trắng và 01 gói được gói bằng mảnh túi nilon màu hồng với giá 4.000.000 đồng mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được Heroine, Vàng Vả D cất giấu vào trong túi áo trước ngực bên trái đang mặc rồi đi bộ theo đường rừng về nhà. Trên đường về, Vàng Vả D dừng lại tại bụi cây ven đường dùng tay cấu một ít Heroine trong gói nilon màu hồng га sử dụng bằng hình thức đốt hít, sau khi sử dụng xong, Vàng Vả D lại cất giấu 04 gói Heroine vào túi áo trước ngực bên trái đang mặc rồi tiếp tục đi bộ về nhà. Hồi 18 giờ 15 phút cùng ngày, khi Vàng Vả D về đến khu vực bản Búng, xã Búng Lao, huyện Mường Ảng thì bị tổ công tác Công an xã Búng Lao phối hợp với tổ công tác số 1 thực hiện kế hoạch 1266 Công an tỉnh Điện Biên kiểm tra, phát hiện, thu giữ toàn bộ 04 gói Heroine có tổng khối lượng 15,96 gam mà Vàng Vả D đang cất giấu.

Ngày 07/9/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Ảng quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can đối với Vàng Vả D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 30/8/2024 xác định: Khối lượng số chất bột màu trắng nghi Heroine được ký hiệu từ H1 đến H4 là 15,96gam.

Tại bản kết luận giám định số: 1425/KL-KTHS, ngày 06/9/2024 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Vàng Vả D là 15,96 gam là ma túy: Loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số: 03/CT - VKSMA, ngày 26/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố bị cáo Vàng Vả D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Vàng Vả D từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 14,97 gam Heroine là vật chứng hoàn lại của vụ án; 02 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì Công văn của Công an huyện Mường Ảng niêm phong vật chứng ban đầu; 01 phong bì của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn,và có đơn xin miễn án phí đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

* Nội dung bản luận cứ của người bào chữa cho bị cáo Vàng Vả D nhất trí với nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo Vàng Vả D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS khi Quyết định hình phạt xem xét cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất theo đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát; Về án phí đề nghị HĐXX miễn án phí cho bị cáo Vàng Vả D.

Bị cáo Vàng Vả D nhất trí nội dung bản luận cứ của người bào chữa.

Lời nói sau cùng, Vàng Vả D nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Qua quá trình xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu và phù hợp với vật chứng đã thu được của bị cáo cụ thể: Hồi 18 giờ 15 phút ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại khu vực bản Búng, xã Búng Lao, huyện Mường Ảng Vàng Vả D đã có hành vi tàng trữ 15,96 Heroine mục đích để sử dụng.

Do vậy, Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ để kết tội bị cáo Vàng Vả D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được và biết rõ tác hại của ma túy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và hiểu được các quy định của Nhà nước nhưng bị cáo là người nghiện chất ma túy để thoả mãn nhu cầu của bản thân nên đã bất chấp pháp luật để thực hiện. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo tàng trữ ma tuý có khối lượng 15,96 gam Heroine, là tình tiết định khung quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 05 đến 10 năm tù.

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên không được đi học ở nhà lao động sản xuất cùng gia đình. Ngày 17/4/2017 bị Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Ngày 22/9/2018 chấp hành xong án phạt tù, đã được xóa án tích. Bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy, đã đi chấp hành án về nên có nhân thân không tốt. Bởi vậy Hội đồng xét xử cần đưa ra mức hình phạt thật nghiêm khắc, để cải tạo giáo dục bị cáo và cũng là cơ hội để bị cáo cai nghiện ma túy. Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống, xã hội một thời gian để bị cáo sửa chữa tội lỗi của mình, sau này trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 của BLHS.

Theo khoản 5 Điều 249 của BLHS quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Tại phiên toà, xét thấy mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên HĐXX chấp nhận.

. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS Hội đồng xét xử thấy rằng: 14,97 gam Heroine là vật chứng hoàn lại, còn lại sau khi gửi mẫu giám định cần tịch thu tiêu hủy; 02 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì Công văn của Công an huyện Mường Ảng niêm phong vật chứng ban đầu; 01 phong bì của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên không còn giá trị nên cần tịch thu để tiêu huỷ.

Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông, không biết tên, địa chỉ. Quá trình điều tra không có cơ sở để làm rõ đối tượng nên HĐXX không xem xét.

. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

. Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

. Trong quá trình điều tra, truy tố thấy rằng: Các hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điểm g Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự:

1. Tuyên bố: Bị cáo Vàng Vả D phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm g Khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Vàng Vả D 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30 tháng 8 năm 2024.

2. Vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 14,97 gam Heroine là vật chứng hoàn lại của vụ án; 02 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì Công văn của Công an huyện Mường Ảng niêm phong vật chứng ban đầu; 01 phong bì của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên (Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/12/2024).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng Vả D.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20/01/2025).

Cỡ chữ