- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn T - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2025/HS-PT Ngày 05-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa
Các Thẩm phán: Ông Chu Long Kiếm
Ông Vi Đức Trí
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Cẩm Nhung - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 43/2025/TLPT-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Nông Văn T, do có kháng cáo của bị cáo Nông Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
- Bị cáo có kháng cáo: Nông Văn T, sinh ngày 24-10-1966 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Căn cước công dân số: 020066005276 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 05-4-2022. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã S, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nông Văn S (đã chết) và bà Hoàng Thị Ư; có vợ là Nông Thị T và có 03 con; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cho Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18-12-2024 đến nay; có mặt.
Ngoài ra, còn có 05 người đại diện hợp pháp của bị hại (đã chết), 01 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 08-11-2024, Nông Văn T mang xe mô tô biểm kiểm soát 12K1-5836 đến cửa hàng sửa chữa xe mô tô để thay thế một số phụ tùng gồm: Trục số, cần số, trục khởi động, dầu máy. Nông Văn T thấy hệ thống phanh sau vẫn hoạt động bình thường, đảm bảo an toàn nên không sửa chữa phanh trước mà vẫn tiếp tục sử dụng xe mô tô tham gia giao thông. Khoảng 09 giờ ngày 10-11-2024, Nông Văn T điều khiển xe mô tô chở theo Bao Văn L cùng nhau đi làm. Trong bữa ăn buổi trưa, Nông Văn T và Bao Văn L đã cùng sử dụng rượu. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, Nông Văn T tiếp tục điều khiển xe mô tô chở Bao Văn L từ thôn N, xã S, huyện L, tỉnh Lạng Sơn để đi về nhà tại thôn K, xã S, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Khi đi đến đoạn đường xuống dốc thuộc Km 02+800, đường huyện 32, thuộc địa phận thôn N, xã S, huyện L, tỉnh Lạng Sơn xe mô tô do Nông Văn T điều khiển không làm chủ được tay lái nên đi qua giao lộ, sau đó đâm xuống rãnh mương va chạm với tà luy dương khiến Nông Văn T bị thương, Bao Văn L tử vong, xe mô tô bị hư hỏng.
Hiện trường vụ tại nạn được xác định tại Km 02 + 800, đường huyện 32, thuộc địa phận thôn N, xã S, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Hiện trường được mô tả theo chiều hướng Quốc lộ 4B thôn T, nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường cong, bên phải là đoạn đường dốc lên đi vào thôn N, mặt đường đất gồ ghề, lồi lõm có độ dài 310m, đường tiếp tuyến rộng 7,5m. Bên trái là đường đất rộng 0,90m và rãnh thoát nước rộng 1,1m sâu 0,35m. Điểm mốc của vụ tai nạn được xác định là cột mốc Km 02+800, đường huyện 32, tại mép đường bên phải chếch sang mép đường bên phải theo hướng đi Quốc lộ 4B 6,25m là tâm trục bánh lốp trước xe mô tô biển kiểm soát 12K1-5836 dựng trên lề đường đất được đánh số 1 trên hiện trường, lấy mép đường bên trái làm chuẩn. Các dấu vết, phương tiện thu thập tại hiện trường được đánh số thứ tự lần lượt như sau: Vị trí số 1: Xe mô tô biển kiểm soát 12K1-5836 dựng trên lề đường đất bên trái, đầu xe quay theo hướng đi thôn T, đuôi xe quay theo hướng đi Quốc lộ 4B, tâm trục bánh lốp phía trước cách mép đường chuẩn 0,70m, tâm trục bánh lốp phía sau cách mép đường chuẩn 0,40m. Chếch về hướng thôn T 0,80m là tâm vùng chất dịch màu nâu đỏ trên lề đường đất được đánh dấu số 2. Vị trí số 2: Vùng chất dịch màu nâu đỏ trên lề đường đất có diện 0,20x0,10m. Tâm vị trí số 2 cách mép đường chuẩn 0,40m. Chếch về bên trái theo hướng đi thôn T 1,25m là tâm vùng chất dịch màu nâu đỏ trên rãnh thoát nước được đánh dấu số 3. Vị trí số 3: Vùng chất dịch màu nâu đỏ có diện 0,20x0,15m. Tâm vị trí số 3 cách mép đường chuẩn 1,40m. Chếch về bên trái theo hướng đi Quốc lộ 4B 02m là tâm của khu vực vùng mảnh nhựa vỡ trên rãnh thoát nước được đánh dấu số 4. Vị trí số 4: Khu vực vùng mảnh nhựa vỡ có diện 2,30x1,40m. Tâm vị trí số 4 cách mép đường chuẩn 1,60m. Chếch về hướng đi thôn T 0,90m là tâm vết mài trượt trên tà luy dương được đánh dấu số 5. Vị trí số 5: Vết mài trượt có diện 0,40x0,20m. Tâm vị trí số 5 cách mép đường chuẩn 2m, tâm vị trí số 5 cách tâm vị trí số 3 là 1,70m.
Kết quả khám phương tiện: Dấu vết trên xe mô tô biển kiểm soát 12K1-5836 như sau: Ốp nhựa đầu xe bung bật khỏi vị trí cố định; mặt nạ đầu xe vỡ khuyết diện 20x20cm. Điểm cao nhất cách mặt đất 85cm; ốp nhựa chắn bùn bánh lốp phía trước cong vênh, trên bề mặt có vết mài bám dính bụi đất diện 21x13cm. Điểm cao nhất cách mặt đất 60cm; ốp nhựa thanh giảm xóc bên phải bánh lốp phía trước nứt vỡ diện 10 x 30cm. Điểm cao nhất cách mặt đất 60cm; trục bánh lốp phía trước dồn gập từ trước về sau; vành kim loại bánh lốp phía trước nứt gãy, cong gập từ ngoài vào trong. Điểm gần nhất cách tâm trục 13cm; cánh yếm nhựa bên phải bung bật khỏi vị trí cố định, để lộ chi tiết máy; cánh yếm nhựa bên trái bung bật khỏi vị trí cố định, để lộ chi tiết máy; yên xe bung bật tách rời khỏi vị trí ban đầu.
Kết luận giám định tử thi số 47/KLGĐTT-TTPY, ngày 14-11-2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Lạng Sơn đối với tử thi Bao Văn L, kết luận: Nguyên nhân chết của Bao Văn L do chấn thương cột sống, gãy xương đốt sống cổ 1, 2 do tương tác với vật tày lực quán tính lớn.
Kết luận giám định kỹ thuật số 144/GĐKT-ĐK ngày 22-11-2024 của Công ty Cổ phần đăng kiểm xe cơ giới Lạng Sơn đối với xe mô tô biển kiểm soát 12K1-5836 như sau: Hệ thống phanh bánh trước và sau không có hiệu lực không đảm bảo an toàn kỹ thuật khi tham gia giao thông. Hệ thống đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu phía trước do tai nạn hư hỏng không có đủ cơ sở để kết luận. Hệ thống lái của phương tiện đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật.
Kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 30-12-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn kết luận: Giá trị của những bộ phận bị thiệt hại, hư hỏng do tai nạn của xe mô tô biển kiểm soát 12K1-5836 tại thời điểm tháng 11-2024 là 1.660.000đồng.
Kết quả nồng độ cồn, chất ma túy đối với Nông Văn T thể hiện: Kết quả kiểm tra tại phiếu đo nồng độ cồn và biên bản kiểm tra ngày 10-11-2024 là 0,941mg/L khí thở. Kết quả kiểm tra xét nghiệm tại bệnh án ngoại khoa âm tính với ma túy Heroine và ma túy tổng hợp.
Kết luận giám định hóa pháp số 2659/PY- XNĐH, ngày 26-11-2024 của Viện pháp y Quân đội kết luận: Tìm thấy Ethanol trong mẫu máu của Bao Văn L, nồng độ 235,3mg/100ml máu. Không tìm thấy các chất ma túy trong mẫu máu của Bao Văn L.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2025/HS-ST ngày 31-3-2025 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã quyết định: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nông Văn T 02 năm 07 tháng tù về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Ngoài ra, Bản án còn tuyên về bồi thường dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong thời hạn luật định, bị cáo Nông Văn T có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm hình phạt tù.
Tại cấp phúc thẩm: Ngày 27-5-2025, bị cáo có đơn kháng cáo bổ sung, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm hình phạt, được cải tạo tại địa phương
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nông Văn T kháng cáo xin được giảm hình phạt tù.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo kháng cáo xin được giảm hình phạt; xét kháng cáo của bị cáo thấy: Bản án sơ thẩm kết án bị cáo về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ và ấn định mức hình phạt đối với bị cáo theo quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tài liệu chứng cứ thể hiện bị cáo đang nuôi dưỡng em gái bị nhiễm chất độc màu da cam. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm về mức hình phạt tù của bị cáo, giảm cho bị cáo từ 05 đến 07 tháng tù. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nông Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung của Bản án sơ thẩm, cụ thể: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 10-11-2024, Nông Văn T trong tình trạng đã sử dụng rượu (với nồng độ cồn 0,941mg/L khí thở) nhưng vẫn điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12K1-5836 chở Bao Văn L di chuyển trên đường từ thôn N, xã S để đi về nhà tại thôn K, xã S, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Khi đi đến đoạn đường dốc giao với đường huyện 32, thuộc Km 02+800, thuộc địa phận thôn N, xã S, huyện L, tỉnh Lạng Sơn xe mô tô do Nông Văn T điều khiển đã không làm chủ được tay lái sau đó đâm xuống rãnh mương va chạm với tà luy dương, hậu quả Bao Văn L tử vong tại chỗ, xe mô tô bị hư hỏng. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan.
Xét kháng cáo xin giảm hình phạt tù của bị cáo, thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra; đã xem xét về nhân thân và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể: Bị cáo khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại và đã bồi thường dân sự xong; bố của bị cáo ông Nông Văn S có thời gian công tác tại XYZ, được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến và được tặng Kỷ niệm chương Cựu chiến binh Việt Nam; mẹ của bị cáo bà Hoàng Thị Ư được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến; bị cáo là người dân tộc thiểu số, thường xuyên sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn; gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên cấp sơ thẩm quyết định mức hình phạt 02 năm 07 tháng tù đối với bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã cung cấp thêm các tài liệu, chứng cứ thể hiện: Hiện bị cáo đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng em gái bị nhiễm chất độc màu da cam. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới mà bị cáo được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy, có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, nhưng mức giảm phải phù hợp với quy định của pháp luật và phải đảm bảo công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm đối với loại tội phạm này tại địa phương.
Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt tù của bị cáo Nông Văn T; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2025/HS-ST ngày 31-3-2025 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đối với phần hình phạt tù của bị cáo Nông Văn T, cụ thể như sau: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nông Văn T 02 (hai) năm tù về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nông Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - PV06, PC10 Công an tỉnh Lạng Sơn; - TAND h. Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn; - VKSND h. Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS h. L, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - ..............; - Lưu: HS, Tòa HS, HCTP, KTNV&THA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Hoa |