- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị D ly hôn với anh T"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2025/HNGĐ-ST Ngày: 08-9-2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Thanh Trà
2. Ông Nguyễn Tiến Thịnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trƣơng Thị Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Đồng Nai, xét xử công khai vụ án thụ lý số 276/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21/8/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Đặng Thị Ngọc D – sinh năm 1994
Nơi cư trú: ấp M, xã Phú Lâm (xã M, huyện Tân Phú cũ), tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: anh Phạm Văn T – sinh năm 1990
Nơi cư trú: ấp Phương Mai, xã L (xã L, huyện Tân Phú cũ), tỉnh Đồng
Nai.
(chị D , anh T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02/6/2025; lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn là chị Đặng Thị Ngọc D trình bày:
Về hôn nhân: Chị D , anh T tự nguyện tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn vào ngày 09/01/2018 tại UBND xã L, (xã L, huyện Tân Phú cũ), tỉnh Đồng Nai. Đời sống hôn nhân vợ chồng chị không thật sự hạnh phúc. Nguyên nhân là do anh T ghen tuông vô cớ nên thường hay chửi và xúc phạm chị, vợ chồng chị đã nhiều lần nói chuyện, hàn gắn nhưng không thành. Từ năm 2020 đến nay chị và anh T đã không còn sống chung với nhau. Nay tình cảm không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Văn Tuyến.
Về con chung: Có 02 con chung là Phạm Thanh B - sinh ngày 02/4/2013, Phạm Khánh M - sinh ngày 31/5/2018. Khi ly hôn chị D đồng ý giao hai cháu B, M cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, tự nguyện cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng số tiền 2.500.000đ/tháng (mỗi người con số tiền 1.250.000đ/tháng).
Về tài sản: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Lời trình bày của anh Phạm Văn T nhƣ sau:
Về hôn nhân: anh và chị Đặng Thị Ngọc D tự nguyên kết hôn năm 2012 sau đó sinh được 01 người con đặt tên là Phạm Thanh B – sinh ngày 02/4/2013, sau đó vợ chồng anh xảy ra mâu thuẫn, đến khoảng năm 2014 thì anh và chị D ly hôn 01 lần. Đến năm 2018, do còn tình cảm và thương con nên anh và chị D kết hôn lại. Vợ chồng anh sống cũng hạnh phúc nhưng được một thời gian thì chị D tự bỏ nhà đi không quay trở về chăm sóc con cái. Từ năm 2020 đến nay anh và chị D đã không còn sống chung với nhau. Nay không còn tình cảm nên chị D yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý.
Về con chung: anh và chị D có 02 con chung là Phạm Thanh B – sinh ngày 02/4/2013; Phạm Khánh M – sinh ngày 31/5/2018. Khi ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu B, M không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; về quan hệ pháp luật, xác định tư cách pháp lý của đương sự, thẩm quyền thụ lý của Tòa án, thủ tục thu thập chứng cứ đúng quy định; quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ, thủ tục cấp tống đạt cho các đương sự đảm bảo theo quy định pháp luật. Các quyền nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo thực hiện. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật nên Viện kiểm sát không có ý kiến hay kiến nghị gì.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị D, cho chị Đặng Thị Ngọc D được ly hôn với anh Phạm Văn T.
- Về con chung: Giao con chung là Phạm Thanh B – sinh ngày 02/4/2013; Phạm Khánh M – sinh ngày 31/5/2018 cho anh Phạm Văn T nuôi dưỡng, chị D tự nguyện cấp dưỡng cho hai cháu B, M số tiền 2.500.000đ/tháng (mỗi người con 1.250.000đ/tháng).
- Về tài sản, nợ chung: không có nên không xem xét.
- Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: bị đơn anh Phạm Văn T cư trú xã L, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8 theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật: Chị D yêu cầu khởi kiện ly hôn tranh chấp nuôi con chung nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về xác định tư cách đương sự: chị Đặng Thị Ngọc D là nguyên đơn; anh Phạm Văn T là bị đơn theo Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, chị D, anh T có đơn xin xét xử vắng mặt vì vậy Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Chị D, anh T tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng
ký kết hôn vào ngày 09/01/2018 tại Ủy ban nhân dân xã L (xã L, huyện Tân Phú cũ), tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, hôn nhân giữa chị D, anh T là hôn nhân hợp pháp được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Đời sống hôn nhân của chị D , anh T không thật sự hạnh phúc, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm nên xảy ra cãi vã, xung đột. Hiện nay chị D , anh T đã không còn sống chung với nhau, vợ chồng không ai quan tâm đến ai, việc này phù hợp với biên bản xác M về mâu thuẫn vợ chồng và lời thừa nhận của các đương sự. Từ những lý do nêu trên, xác định được chị D , anh T trong quá trình sống chung đã không còn thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình; làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình thì yêu cầu ly hôn của chị D đối với anh T là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Xét thấy từ khi chị D , anh T không còn sống chung thì con chung do anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, con chung được đi học và sống trong môi trường đảm bảo các điều kiện phát triển tốt về mọi mặt, ngoài ra cháu B có nguyện vọng sống chung với anh Tuyến. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Phạm Thanh B – sinh ngày 02/4/2013; Phạm Khánh M – sinh ngày 31/5/2018 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung của chị D , chị D tự nguyện cấp dưỡng cho hai cháu B, M số tiền 2.500.000đ/tháng (mỗi người con số tiền là 1.250.000đ/tháng). Chị D có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản và nợ chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.
Về án phí: Chị Đặng Thị Ngọc D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 68, 147, 207, 220, 227, 228, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 19, 51, 53, 54, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thị Ngọc D . Chị Đặng Thị Ngọc D được ly hôn với anh Phạm Văn T.
- Về con chung: Giao cháu Phạm Thanh B – sinh ngày 02/4/2013; Phạm Khánh M – sinh ngày 31/5/2018 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị D tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu B, cháu M số tiền 2.500.000đ/tháng (mỗi người con số tiền 1.250.000đ/tháng), thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 10/2025. Chị D có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản và nợ chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.
- Về án phí: Chị Đặng Thị Ngọc D phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn và 300.000 đồng án phí không có giá ngạch đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị D đã nộp theo biên lai số 0021070 ngày 03/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai (nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 8 – Đồng Nai, Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai) được chuyển thành án phí, chị D phải nộp tiếp số tiền án phí 300.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND Khu vực 8 – Đồng Nai; - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai; - Các đương sự (để thi hành); - UBND xã L, tỉnh Đồng Nai (để ghi vào sổ hộ tịch ĐK ngày 09/01/2018) - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tuấn |