- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — ""Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" giữa anh Nguyễn Thành N và chị Phạm Thị Mỹ X"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Thành N và chị Phạm Thị Mỹ X.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 188 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24 - 02 - 2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Minh Tân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Bé Hai.
2. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình: Không tham gia.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 537/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 199/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thành N, sinh năm 1997; địa chỉ ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (Có mặt).
- Bị đơn: Chị Phạm Thị Mỹ X, sinh năm 1996; địa chỉ ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 18 tháng 10 năm 2024 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn anh Nguyễn Thành N trình bày:
- Về hôn nhân: Trên cơ sở quen biết, được sự đồng ý của gia đình, anh và chị Phạm Thị Mỹ X tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn ngày 24/10/2022 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Sau lễ cưới, để thuận tiện làm việc, vợ chồng thuê nhà trọ sinh sống cho đến khi chị X sinh con thì cả hai chuyển về chung sống cùng với mẹ chị X tại ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Tháng 10/2023, chị X mở nhà thuốc tây thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị X và mẹ chị X thường xuyên dùng lời lẽ thiếu tế nhị, xúc phạm anh, không tôn trọng cha mẹ anh, sự việc diễn ra trong thời gian dài dẫn đến vợ chồng mất hạnh phúc. Nên anh và chị X sống ly thân từ cuối tháng 10/2023 cho đến nay không trở về đoàn tụ. Sau thời gian sống ly thân, nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh yêu cầu được ly hôn với chị X.
- Về con chung, nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Anh và chị X có 01 con chung tên Nguyễn Phạm Hoàng Â, sinh ngày 26/6/2023 hiện chị X đang nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, anh đồng ý giao cháu  cho chị X được trực tiếp nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm:
Chị Phạm Thị Mỹ X đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng đều vắng mặt tại các phiên họp, không giao nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh N, không giao nộp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Tại phiên tòa sơ thẩm, chị X đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không có lý do chính đáng vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xác định đây là yêu cầu về ly hôn và tranh chấp về nuôi con, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Tam Bình.
Về phạm vi xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 188 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét ngoài yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con như nhận định giải quyết tại các mốc đơn [1], [2] “Về nội dung”, các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng nên Tòa án không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
Về thủ tục xét xử: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị X theo thủ tục chung.
- Về nội dung:
Về hôn nhân: Anh N, chị X là vợ chồng hợp pháp, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Xét nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng mất hạnh phúc là do chị X và mẹ chị X nhiều lần có lời lẽ thiếu tế nhị, xúc phạm anh N, không tôn trọng cha mẹ anh N, sự việc diễn ra trong thời gian dài, là vi phạm nghiêm trọng tình nghĩa - nghĩa vụ vợ chồng. Anh N và chị X có thời gian dài sống ly thân từ cuối tháng 10/2023 đến nay không trở về đoàn tụ. Tại phiên tòa sơ thẩm, anh N xác định không còn tình cảm vợ chồng, không muốn ý tiếp tục chung sống với chị X. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị X không có văn bản trình bày ý kiến phản đối hoặc đề nghị giải quyết khác đối với yêu cầu ly hôn của anh N. Căn cứ vào lời trình bày của anh N và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết luận hôn nhân giữa anh N và chị X đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án giải quyết cho ly hôn giữa anh N và chị X.
Về con chung, nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Xét cháu  mới trên 19 tháng tuổi, còn trong độ tuổi cần sự chăm sóc ân cần của người mẹ, hiện chị X đang trực tiếp nuôi dưỡng. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị X không có văn bản trình bày ý kiến phản đối hoặc đề nghị giải quyết gì khác đối ý yêu cầu khởi kiện của anh N. Căn cứ vào khoản 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án giải quyết giao cháu  cho chị X được trực tiếp nuôi dưỡng; dành cho chị X và anh N một vụ kiện dân sự khác nếu có tranh chấp với nhau về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con; anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Từ những phân tích và điều luật viện dẫn áp dụng tại các mốc đơn [1], [2], [3] “Về tố tụng” và các mốc đơn [1], [2] “Về nội dung”, Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh N giải quyết theo hướng đã nhận định như trên.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án, Tòa án giải quyết anh N phải chịu án phí giải quyết ly hôn số tiền 300.000 đồng, số tiền này được khấu trừ xong vào trong số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 188, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Thành N và chị Phạm Thị Mỹ X.
2. Về con chung, nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con:
2.1. Giao cháu Nguyễn Phạm Hoàng Â, sinh ngày 26 tháng 6 năm 2023 cho chị Phạm Thị Mỹ X được trực tiếp nuôi dưỡng.
2.2. Dành cho chị Phạm Thị Mỹ X và anh Nguyễn Thành N một vụ kiện dân sự khác nếu có tranh chấp với nhau về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
2.3. Anh Nguyễn Thành N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Nguyễn Thành N phải nộp án phí ly hôn số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Số tiền này được khấu trừ xong vào trong số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí anh N đã nộp theo biên lai thu số No 0014606 ngày 07 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Vụ án được xét xử công khai. Có mặt anh Nguyễn Thành N; vắng mặt chị Phạm Thị Mỹ X. Báo cho anh N có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để Tòa án cấp trên xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Riêng chị X vắng mặt thì thời hạn kháng cáo nêu trên được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long: 02; - VKSND huyện Tam Bình: 02; - CC. THADS huyện Tam Bình: 01; - NĐ + BĐ: 02; - UBND xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long: 01; - Lưu hồ sơ vụ án: 01; - Lưu án văn: 06. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Cao Minh Tân |