vanban.org

Bản án 33/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NH DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 4 - 2025
V/v tranh chấp hôn Nh gia đình

NH DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Văn Bình;

Các Hội thẩm Nh dân: 1. Ông Nguyễn Phi Hùng

2. Bà Bùi Thanh Thúy

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thụy Thùy Trâm - Thư ký Tòa án Nh dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát Nh dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà: Ông Trần Cao Lâm - Kiểm sát viên.

Vào ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án Nh dân huyện Châu Thành, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 362/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024, về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2025/QĐST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thanh K, sinh ăm 1987 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số 4, ấp Tân Phú, xã Tân Phú Trung, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

Bị đơn: Anh Nguyễn Phú Nh, sinh năm 1981 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số 518, ấp Tân Mỹ, xã Tân Phú Trung, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Trần Thị Thanh K trình bày:

Về quan hệ hôn Nh: Vào năm 2007 chị K và anh Nh được sự mai mối nên quen biết nhau, sau thời gian tìm hiểu nên cả hai tiến đến hôn Nh, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban Nh dân xã Tân Phú Trung cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/12/2007.

Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, tuy nhiên những năm gần đây cả hai thường xuyên mâu thuẫn, cãi nhau, nguyên Nh do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên cả 2 sống ly thân từ ngày 01/01/2022. Từ khi sống ly thân thì chị K, anh Nh cũng không gặp nhau nói chuyện để hàn gắn tình cảm vì cả hai có nhiều điểm khác biệt không hòa hợp được.

Nay chị K cảm thấy không thể tiếp tục cuộc hôn Nh với anh Nguyễn Phú Nh nên chị K yêu cầu được ly hôn với anh Nh.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống thì chị K và anh Nh có 02 con chung là Nguyễn Phú Duy, sinh ngày 20/01/2008 và Nguyễn Thị Thanh Nhiên, sinh ngày 16/10/2019. Hiện cháu Duy đang sống với anh Nh, còn cháu Nhiên đang sống với chị K. Khi ly hôn chị K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Duy và cháu Nhiên. Không yêu cầu anh Nh cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Phú Nh dù được Tòa án triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vắng mặt nên không có ý kiến trình bày:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Theo đơn khởi kiện chị Trần Thị Thanh K yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Phú Nh. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ dân sự, tranh chấp hôn Nh gia đình theo Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Nh dân huyện Châu Thành.

Nguyên đơn chị Trần Thị Thanh K có đơn xin vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Phú Nh được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh Nh vắng mặt lần 2 không lý do. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Thanh K, Hội đồng xét thấy như sau:

Qua lời khai của chị K đã xác định: Chị K và anh Nh do mai mối, qua thời gian tìm hiểu 06 tháng được gia đình hai bên chấp thuận nên tiến đến hôn Nh, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban Nh dân xã Tân Phú Trung cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/12/2007 nên đây là hôn Nh hợp pháp.

Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến khoảng năm 2018 thì cuộc sống chung của vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, chị K xác định nguyên Nh do anh Nh có con riêng với người vợ trước nên chỉ lo cho con riêng của anh Nh, từ đó làm vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không còn tiếng nói chung. Đến năm 2022 chị K về nhà cha mẹ ruột ở đến nay.

Khi chị K gửi đơn yêu cầu ly hôn với anh Nh, dù Tòa án đã tống đạt Thông báo Thụ lý, Thông báo hòa giải và Quyết định xét xử nhưng anh Nh vẫn không đến Tòa án trình bày ý kiến. Điều này cho thấy anh Nh cũng không muốn hàn gắn tình cảm với chị K. Nên xét mối quan hệ hôn Nh giữa chị K và anh Nh đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, mục đích hôn Nh không đạt được đủ cơ sở để cho ly hôn.

Theo Điều 56 Luật hôn Nh gia đình quy định trường hợp Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn Nh lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn Nh không đạt được.

Do đó việc chị Trần Thị Thanh K yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Phú Nh là có sơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét về con chung, tài sản chung và nợ chung:

- Về con chung: Chị K xác định trong thời gian sống chung với anh Nh thì chị K và anh Nh có 02 con chung là Nguyễn Phú Duy, sinh ngày 20/01/2008 và Nguyễn Thị Thanh Nhiên, sinh ngày 16/10/2019. Hiện cháu Duy và cháu Nhiên đang sống với chị K. Khi ly hôn K yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Duy và cháu Nhiên, không yêu cầu anh Nh cấp dưỡng nuôi con.

Theo văn bản trình bày ý kiến của cháu Nguyễn Phú Duy trình bày: “...con là con của mẹ Trần Thị Thanh K và cha con là Nguyễn Phú Nh. Con về ở với mẹ con từ năm 2023 khi cha mẹ con ly thân, con không mong muốn cha mẹ ly hôn nhưng khi cha mẹ ly hôn cho con được sống chung với mẹ”.

Khi Tòa án ra Thông báo số 887/TB-TA ngày 07 tháng 11 năm 2024 cho anh Nh ý kiến về việc anh Nh có đồng ý để chị K trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phú Duy và cháu Nguyễn Thị Thanh Nhiên sau khi ly hôn không nhưng anh Nh cũng không có ý kiến phản hồi.

Do đó Hội đồng xét xử xét cần giao cháu Duy và cháu Nhiên cho chị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Chị K không yêu cầu anh Nh cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung: Chị Trần Thị Thanh K không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Chị Trần Thị Thanh K xác định không có nợ chung với anh Nh nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Trần Thị Thanh K phải chịu án phí hôn Nh gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn Nh gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Thanh K. Cho chị Trần Thị Thanh K được ly hôn với anh Nguyễn Phú Nh.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phú Duy, sinh ngày 20/01/2008 và Nguyễn Thị Thanh Nhiên, sinh ngày 16/10/2019 cho chị Trần Thị Thanh K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Chị K không yêu cầu anh Nguyễn Phú Nh cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Nguyễn Phú Nh được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung: Chị Trần Thị Thanh K không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về nợ chung: Chị Trần Thị Thanh K xác định không có nợ chung với anh Nh nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí: Chị Trần Thị Thanh K phải chịu 300.000 đồng án phí hôn Nh gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0013711 ngày 04/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ