- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thành C - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (điều 244 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thành C phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2024/HS-ST Ngày: 27-12-2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Vũ
Ông Lê Quang Nhuận
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Bùi Trọng Thắng, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Thành C (Tên gọi khác: Không có tên gọi khác); Sinh ngày 05/01/1985, tại tỉnh Lai Châu; Nơi ĐKHKTT: Thôn 3, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nơi ở hiện tại: Thôn 1, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Giáo viên; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông Phạm Văn C2, sinh năm 1958; con bà Bùi Thị B, sinh năm 1959; Bị cáo có vợ là Trần Thị Minh T, sinh năm 1982 và 02 người con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án và chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/7/2024, tạm giam từ 16/7/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C an tỉnh Điện Biên. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Dương Văn H, sinh năm 1978. Địa chỉ: Thôn 6, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Có mặt tại phiên tòa).
2. Chị Trần Thị Minh T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn 1, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Có mặt tại phiên tòa).
3. Anh Hứa Văn T2, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn 4, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
4. Chị Trần Thị H2, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn 4, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
5. Ông Phạm Văn C2, sinh năm 1958. Địa chỉ: Thôn 3, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt tại phiên tòa).
6. Bà Bùi Thị B, sinh năm 1959. Địa chỉ: Thôn 3, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Có mặt tại phiên tòa).
7. Bà Trần Thị T3, sinh năm 1970. Địa chỉ: Thôn 4, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
8. Ông Hứa Văn Y, sinh năm 1968. Địa chỉ: Thôn 4, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thành C bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Phạm Thành C là giáo viên Trường PTDT bán trú tiểu học H, huyện Đ. Để có thêm thu nhập, thời gian rảnh rỗi C đến các bản ở xã vùng cao biên giới giữa hai nước Việt Nam - CHDCND Lào thuộc huyện Đ tìm mua các loại lâm sản mang bán lại cho khách có nhu cầu. Qua các mối quan hệ, Phạm Thành C quen biết một người đàn ông tên H3 ở huyện M. Khoảng tháng 6/2024, H3 giới thiệu với C một người tên là N cùng ở huyện M có nhu cầu muốn mua Dúi để bán, C đồng ý tìm Dúi cho N. Sau khi thống nhất việc mua bán Dúi, N nói đang cần tìm mua Hổ hoặc Báo để nấu cao, nếu C tìm được thì giới thiệu. C cho biết nếu tìm được người bán thì sẽ giới thiệu hoặc mua hộ. Khoảng 1 tuần sau, C hẹn gặp N tại khu vực Cầu A1 để giao 02 con Dúi xám khoảng 04kg với giá 2.000.000 đồng. Tại đây, N đã đặt cọc cho C 10.000.000 đồng để tìm mua Hổ hoặc Báo giúp N, còn giá cả sẽ thống nhất sau.
Ngày 03/7/2024, tại khu vực cầu bản P, xã H, huyện Đ, C gặp và mua được 2 con Dúi xám của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ với giá 1.200.000 đồng. Sau khi bán Dúi cho C, người đàn ông đưa điện thoại có hình ảnh 03 cá thể Báo lửa đã chết, tình trạng đông lạnh cho C xem, nói tổng khối lượng khoảng 40kg và hỏi C có mua không. C đồng ý mua để bán lại cho N kiếm lời. Người đàn ông hẹn C khoảng 22 giờ cùng ngày có mặt ở đầu cầu P, xã P để giao dịch và dặn C mang theo tiền mặt để thanh toán. Sau khi thống nhất thỏa thuận, C đi về nhà còn người đàn ông đi đâu không rõ.
Khoảng 22 giờ ngày 03/7/2024, C điều khiển ô tô CHEVROLET LACETTI, biển kiểm soát 27A-074.12 đến khu vực đầu cầu P đợi. Khoảng 30 phút sau có một người đàn ông đội mũ bảo hiểm kín đầu, điều khiển xe máy Wave màu đỏ, chở một bao xác rắn đến. Sau khi nhận ra nhau, người đàn ông đặt bao xuống đất, C mở bao và bật đèn flash điện thoại soi thấy bên trong có 3 cá thể Báo lửa đã chết, tình trạng đông lạnh. Người đàn ông đi xe máy lấy một cân điện tử ở trước xe máy đặt xuống đất. C lấy 2 cá thể Báo lửa trong bao ra rồi cho mỗi cá thể vào một túi nilon màu xanh đặt cả 02 cá thể lên cân được 23,375kg, cá thể còn lại C để nguyên trong bao rồi đặt lên cân được 14,745kg. C sử dụng điện thoại Samsung Galaxy A12 của C chụp ảnh lại. Sau khi cân, C và người đàn ông thống nhất tính 03 cá thể Báo lửa nặng 38kg với số tiền 45.600.000 đồng. C lấy tiền trả cho người đàn ông rồi mang 03 cá thể Báo lửa đặt vào cốp xe ô tô. Người đàn ông điều khiển xe máy đi đâu không rõ. C điều khiển ô tô chở 03 cá thể Báo lửa về nhà bố mẹ đẻ của C là ông Phạm Văn C2, bà Bùi Thị B, tại thôn 3, xã P, huyện Đ để cất giấu. Sau đó, C gọi điện thông báo cho N đã tìm được 03 cá thể Báo lửa, khoảng 40kg và báo giá 1.800.000 đồng/01kg. N đồng ý mua, cả hai thống nhất khoảng 03 đến 04 ngày sau, C sẽ mang 03 cá thể Báo lửa ra huyện M giao cho N.
Sáng ngày 07/7/2024, Nam gọi điện giục C mang Báo lửa cho N, C hẹn tối cùng ngày sẽ giao hàng. Khoảng 20 giờ 50 phút 07/7/2024, do đã uống rượu nên C nhờ anh Dương Văn H là bạn mình lái xe đi huyện M, C điều khiển ô tô biển kiểm soát: 27A-074.12 đón H rồi di chuyển đến nhà bố mẹ đẻ của C lấy 03 cá thể Báo lửa để vào trong cốp sau xe ô tô. Sau đó, H điều khiển xe di chuyển về thành phố Đ đi huyện M. Khi đến khu vực xã T, huyện Đ, C bảo H dừng xe lại để gọi điện thoại. C xuống xe gọi điện thoại thông báo cho Nam về việc đang mang 03 cá thể Báo lửa ra M cho N. N nói khi nào đến đầu thị trấn M thì gọi lại, N sẽ ra đón. C và H tiếp tục di chuyển đến Km 73 + 650 Quốc lộ 279 thuộc tổ dân phố 8, phường H, thành phố Đ thì bị tổ C tác công an phát hiện, bắt quả tang về hành vi vận chuyển 3 cá thể Báo lửa.
Ngày 07/7/2024, tại Biên bản làm việc xác định khối lượng, chụ ảnh phục vụ giám định và niêm phong cá thể động vật bị tạm giữ, Cơ quan điều tra cân xác định trọng lượng 03 cá thể nghi Báo lửa. xác định: 03 (ba) cá thể động vật đã chết, đều có 04 chân, mỗi chân đều có 05 móng vuốt sắc, lông màu vàng nâu, có răng nanh nhọn, nghi là Báo lửa, tình trạng bốc mùi hôi, thối; khối lượng từng cá thể lần lượt là 14,77 kg; 12,145 kg và 11,38 kg.
Tại Kết luận giám định hình thái động vật số 1153/STTNSV ngày 12/7/2024 của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật thuộc Viện hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, kết luận: Bản ảnh vật chứng 1, 2, 3 chụp cá thể động vật đã chết, là của loài Báo lửa, có tên khoa học Catopuma temminckii.
Loài Báo lửa (Catopuma temminckii), có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/07/2019 của Chính phủ.
Loài Báo lửa (Catopuma temminckii), có tên trong nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.
Loài Báo lửa (Catopuma temminckii), có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loại động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ban hành kèm theo Thông báo số 25/TB-CTVN ngày 17/02/2023 của cơ quan quản lý CITES Việt Nam.
Tại bản Cáo trạng số: 31/CT-VKSĐB-P2 ngày 21/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên để xét xử bị cáo Phạm Thành C về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 244 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Thành C phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 244; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Thành C 600.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 244 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
* Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) túi nilon màu xanh và 01 (một) bao xác rắn màu trắng.
- Tịch thu sung ngân sách: Số tiền bị cáo khai do Nam đã đặt cọc cho bị cáo 10.000.000 đồng để tìm mua Hổ hoặc Báo giúp Nam: Ngày 22/10/2024, gia đình bị cáo đã nộp 10.000.000 đồng vào tài khoản tạm giữ số 39490910295400000 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên đã chuyển số tiền 10.000.000 đồng đến tài khoản của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên theo Công văn số 602/CV-VKS-P2 ngày 28/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Công văn số 711/CSKT ngày 28/11/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc: ½ giá trị chiếc xe ô tô biển kiểm soát 27A-074.12, nhãn hiệu CHEVROLET, số loại LACETTI, màu sơn: đen, loại xe: ô tô con, số máy: F16D31022452, số khung: RLLANF46DCH909741, dung tích xi lanh: 1598 (cm3), số chỗ ngồi: 05, năm sản xuất: 2012, nước sản xuất: Việt Nam, vỏ xe có nhiều vết xước, xe cũ đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo Phạm Thành C: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280 màu đen, tình trạng: điện thoại cũ, đã qua sử dụng, hoạt động bình thường, số IMEI 351928/05/350679/3.
- Trả lại cho ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Minh T: ½ giá trị chiếc xe ô tô biển kiểm soát 27A-074.12, nhãn hiệu CHEVROLET, số loại LACETTI, màu sơn: đen, loại xe: ô tô con, số máy: F16D31022452, số khung: RLLANF46DCH909741, dung tích xi lanh: 1598 (cm3), số chỗ ngồi: 05, năm sản xuất: 2012, nước sản xuất: Việt Nam, vỏ xe có nhiều vết xước, xe cũ đã qua sử dụng.
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Phạm Thành C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thành C thừa nhận hành vi tàng trữ, vận chuyển trái phép 03 cá thể động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ như cáo trạng truy tố. Bị cáo nhất trí nội dung bản Cáo trạng cũng như bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên, bị cáo không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng trước khi nghị án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Minh T trình bày chiếc xe ô tô biển kiểm soát 27A-074.12, nhãn hiệu CHEVROLET mà bị cáo lấy đi sử dụng để vận chuyển trái phép 03 cá thể Báo lửa là tài sản chung của vợ chồng, chiếc xe được mua năm 2021 bằng tiền lương tiết kiệm của hai vợ chồng khi bị cáo lấy đi thì không nói cho chị T biết. Chị Trần Thị Minh T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe ô tô đã bị thu giữ cho chị để sử dụng làm phương tiện đi lại đưa đón con đi học, phục vụ cho sinh hoạt chung của gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Qua phần tranh tụng công khai tại phiên tòa bị cáo Phạm Thành C đã khai và công nhận: Hồi 21 giờ 30 phút, ngày 07/7/2024, tại KM73 + 650 Quốc lộ 279 thuộc tổ dân phố 8, phường H, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. Phạm Thành C đã có hành vi tàng trữ, vận chuyển trái phép 03 cá thể Báo lửa có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ để bán cho người khác với mục đích kiếm lời, trên đường vận chuyển thì bị tổ công tác công an phát hiện, bắt quả tang. Lời khai nhận tội của bị cáo trước phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, cũng như Cáo trạng số 31/CT-VKSĐB-P2 ngày 21/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố.
Báo lửa là loài động vật lớp thú thuộc bộ ăn thịt nằm trong Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiểm ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ; là một trong các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo Phụ lục I, ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ. Như vậy, hành vi của bị cáo là tàng trữ, vận chuyển trái phép 03 cá thể động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” với tình tiết định tội là “Vận chuyển trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của từ 03 cá thể đến 07 cá thể lớp thú,…”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Điều 244. Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
1. Người nào vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Số lượng động vật hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của từ 03 cá thể đến 07 cá thể lớp thú, ... quy định tại điểm a khoản 1 Điều này; …”
Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ pháp lý để xét xử bị cáo Phạm Thành C về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 244 Bộ luật Hình sự.
Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng, gây nguy hại rất lớn cho xã hội có mức cao nhất của khung hình phạt là 10 năm tù, được quy định tại Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đã gây ra.
Xét về hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra:
Hành vi vận chuyển trái phép 03 cá thể động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ hệ cân bằng sinh thái, đa dạng sinh học của các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm; phạm tội có tính chất, mức độ rất nghiêm trọng. Do đó, cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo Phạm Thành C sinh ra và lớn lên ở xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Đến tuổi trưởng thành thì kết hôn với Trần Thị Minh T và sinh được 02 người con. Bị cáo C có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa bị kết án và chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Thành C không phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi bị bắt và tại phiên tòa bị cáo Phạm Thành C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Quá trình công tác tại Trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học H, xã H, huyện Đ, bị cáo được tặng 02 danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở (năm 2020 - 2021, năm 2023 - 2024), 01 Giấy khen có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ năm 2019 – 2020, được Phòng Giáo dục và đào tạo huyện Điện Biên tặng 01 Giấy chứng nhận Giáo viên dạy giỏi cấp huyện năm học 2021 – 2022; được Bộ Giáo dục và đào tạo tặng 01 Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp giáo dục năm 2023; được Ban chấp hành Liên đoàn lao động tỉnh Điện Biên tặng 01 Giấy khen có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua, lao động giỏi và xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh năm học 2017 – 2018; bị cáo tác động với gia đình tự nguyện nộp lại số tiền 10.000.000 đồng do phạm tội mà có nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà việc áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo vừa đảm bảo việc thu nộp ngân sách nhà nước, vừa có tác dụng răn đe và cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng khoản 1 Điều 54 và Điều 35 Bộ luật Hình sự phạt tiền đối với bị cáo. Đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về phần hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận.
Hội đồng xét xử xử phạt hình phạt tiền đối với bị cáo nên áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2015:
“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, nghề nghiệp của bị cáo là giáo viên trường tiểu học, thu nhập ở mức trung bình, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 244 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xét xử chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát về việc xử lý vật chứng của vụ án.
- Đối với 02 (hai) túi nilon màu xanh và 01 (một) bao xác rắn màu trắng là vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280 màu đen, thu giữ khi bắt quả tang của Phạm Thành C, do bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo C .
- Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 27A-074.12, nhãn hiệu CHEVROLET, bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội thì theo quy định của pháp luật cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước, tuy nhiên Hội đồng xét xử thấy rằng chiếc xe ô tô là tài sản chung của hai vợ chồng bị cáo, khi bị cáo C lấy xe ô tô đi vận chuyển trái phép 03 cá thể động vật nguy cấp, quý, hiếm thì vợ bị cáo không biết; do đó cần tịch thu sung ngân sách nhà nước ½ giá trị chiếc xe và trả lại cho vợ bị cáo là Trần Thị Minh T ½ giá trị chiếc xe ô tô trên.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Đối với số tiền 10.000.000 đồng bị cáo nhận của người đàn ông tên Nam đặc cọc mua Báo lửa, là tiền vi phạm pháp luật; Hội đồng xét xử buộc bị cáo Phạm Thành C nộp lại số tiền 10.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo C và gia đình bị cáo đã nộp lại số tiền 10.000.000 đồng vào tài khoản tạm giữ số 39490910295400000 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên ngày 22/10/2024. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên đã chuyển số tiền 10.000.000 đồng đến tài khoản của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên theo Công văn số 602/CV-VKS-P2 ngày 28/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Công văn số 711/CSKT ngày 28/11/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên.
- Chấp nhận việc xử lý vật chứng của vụ án theo Quyết định xử lý vật chứng số 1003/QĐ-CSKT, ngày 27/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên: Bằng hình thức chuyển giao cho Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật H thuộc Vườn Quốc gia H tỉnh Lào Cai để quản lý, nghiên cứu khoa học, trưng bày vì mục đích giáo dục, bảo tồn theo quy định của pháp luật đối với 03 cá thể báo lửa (được thể hiện bằng biên bản giao nhận ngày 01/10/2024 (Bút lục số 72, 73) giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật H thuộc Vườn Quốc gia H tỉnh Lào Cai).
Các vấn đề khác của vụ án:
Đối với người đàn ông tên H3 giới thiệu N cho Phạm Thành C và người đàn ông tên N đặt mua 03 cá thể Báo lửa của C. C liên hệ với H3 qua số điện thoại 0789036105 do bà Lò Thị H4, sinh năm 1977, trú tại xã N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên đăng ký; C liên hệ với N qua số điện thoại 0327204177 do bà H BÉT BD, sinh năm 1992, trú tại xã E, huyện L, tỉnh Đắk Lắk đăng ký. Cả 02 số điện thoại đều không do chính chủ đăng ký, C không biết hai người này. Ngoài ra, C không cung cấp được thêm thông tin gì khác về H3 và N nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để điều tra, xác minh làm rõ.
Đối với người đàn ông đã bán 03 cá thể Báo lửa cho C, do C không biết tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại và không biết biển kiểm soát xe máy của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cở sở để điều tra, xác minh làm rõ.
Dương Văn H là người chở C đi M. Quá trình C lấy 03 cá thể Báo lửa và di chuyển trên đường đi huyện M. C không nói và H không hỏi về đồ vật đươc đựng trong bao xác rắn, túi nilon nên H không biết C chở đồ gì nên không đề cập xử lý.
Đối với chiếc điện thoại Samsung Galaxy A12 của Phạm Thành C dùng để liên lạc với H3, N và chụp ảnh cân 03 cá thể Báo Lửa, C đã làm rơi mất chiếc điện thoại này. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm thấy chiếc điện thoại.
Phạm Thành C mua bán Dúi với nhiều người, C không nhớ mua Dúi của ai và bán cho ai. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để điều tra, làm rõ nội dung này. Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Phạm Thành C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên C an tỉnh Điện Biên; Kiểm sát viên; Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Điện Biên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thành C phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 244; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54; Điều 35 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Thành C 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng).
- Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ Quyết định tạm giam số 55/2024/HSST-QĐTG ngày 26/11/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đối với bị cáo Phạm Thành C.
- Áp dụng khoản 3 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên trả tự do cho bị cáo Phạm Thành C tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
* Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) túi nilon màu xanh và 01 (một) bao xác rắn màu trắng.
* Tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc:
- ½ giá trị chiếc xe ô tô biển kiểm soát 27A-074.12, nhãn hiệu CHEVROLET, số loại LACETTI, màu sơn: đen, loại xe: ô tô con, số máy: F16D31022452, số khung: RLLANF46DCH909741, dung tích xi lanh: 1598 (cm3), số chỗ ngồi: 05, năm sản xuất: 2012, nước sản xuất: Việt Nam, vỏ xe có nhiều vết xước, xe cũ đã qua sử dụng.
- Số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) do bị cáo phạm tội mà có. Số tiền này hiện đang tạm giữ tại tài khoản tạm gửi của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên.
* Trả lại cho bị cáo Phạm Thành C: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280 màu đen, tình trạng: điện thoại cũ, đã qua sử dụng, hoạt động bình thường, số IMEI 351928/05/350679/3.
* Trả lại cho ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ba Trần Thị Minh T: ½ giá trị chiếc xe ô tô biển kiểm soát 27A-074.12, nhãn hiệu CHEVROLET, số loại LACETTI, màu sơn: đen, loại xe: ô tô con, số máy: F16D31022452, số khung: RLLANF46DCH909741, dung tích xi lanh: 1598 (cm3), số chỗ ngồi: 05, năm sản xuất: 2012, nước sản xuất: Việt Nam, vỏ xe có nhiều vết xước, xe cũ đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Điện Biên và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên ngày 22/11/2024).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Phạm Thành C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/12/2024).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I (Tòa án nhân dân tối cao); - Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Người có QLNV,LQ; - Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên; - Cục THADS tỉnh Điện Biên; - Phòng HC Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Lưu HSVA, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Phƣơng |