- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Huy T2 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Huy T2 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2024/HS-ST Ngày 11/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
* Tại điểm cầu trung tâm:
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Túy
Ông Đặng Ngọc Tân
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Viết Quyết - Kiểm sát viên.
* Tại điểm cầu thành phần:
- Ông Vũ Minh T – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa.
- Ông Chu Xuân T1 – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa.
- Ông Đặng Xuân Đ – Cán bộ đội thi hành án hình sự và hỗ trợ Tư pháp Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa.
Trong ngày 11 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử công khai trực tuyến sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 23/2024/TLST– HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/HSST-QĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo:
* Tại điểm cầu thành phần:
Bị cáo Nguyễn Huy T2 (tên gọi khác: Không), sinh năm 1986
Nơi sinh và nơi cư trú: Thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12.
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam.
Con ông Nguyễn Huy D, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1959.
Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 02.
Vợ con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 11/2017/HSST ngày 22/02/2017 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt T2 02 năm tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tiệp đã chấp hành xong án phạt tù ngày 30/8/2018 và thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm tháng 4/2017.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/01/2024 đến ngày 14/01/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình. Trích xuất có mặt tại phiên tòa.
* Tại điểm cầu trung tâm:
- Người chứng kiến:
+ Ông Nguyễn Bá S, sinh năm 1960; Địa chỉ: Tổ B, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)
+ Ông Trần Văn T3, sinh năm 1962; Địa chỉ: Tổ E, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)
PHẦN NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tiệp là đối tượng nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Hêrôin, hình thức sử dụng là chích, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 11 giờ 30 phút ngày 08/01/2024, T2 đi bộ từ nhà đến khu vực tổ C, thị trấn Q, huyện Q mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không rõ tên, địa chỉ, 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng rồi giấu vào túi quần bên phải phía trước đang mặc và đi tìm chỗ vắng để sử dụng ma túy thì bị Công an huyện Q phát hiện và đưa T2 về trụ sở Công an thị trấn Q lập biên bản bắt người phạm tội bắt quả tang.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Huy T2 tại thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, không phát hiện, thu giữ gì.
Tại Bản Kết luận giám định số 38/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “Mẫu giám định là ma túy, loại H (Heroine), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; có khối lượng 0,1660 gam. Heroine STT: 9, Danh mục IA, phụ lục kèm theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ”.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Huy T2 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên Cáo trạng số 32/CT-VKSQP ngày 21/3/2024 đã truy tố, hành vi của bị cáo Nguyễn Huy T2 đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị HĐXX:
- Về áp dụng điều luật và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T2 từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 08/01/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Huy T2.
- Ngoài ra, còn đề nghị HĐXX xem xét về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo Nguyễn Huy T2 nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Huy T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng đã mô tả. Phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các biên bản quản lý niêm phong đồ vật, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 12 giờ, 13 giờ và 13 giờ 20 phút ngày 08/01/2024 tại trụ sở Công an thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Bản Kết luận giám định số 38/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T; Lời khai của những người chứng kiến ông Trần Văn T3 và ông Nguyễn Bá S cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[2.1] Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 08/01/2024, tại khu vực tổ C, thị trấn Q, huyện Q bị cáo Nguyễn Huy T2 đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 01 gói Heroine có khối lượng 0,1660 gam ma túy loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Công an huyện Q phát hiện, bắt quả tang. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Huy T2 đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…”.
[2.2] Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ: Đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh an toàn xã hội. Ma tuý còn là nguồn gốc phát sinh các loại bệnh tật ảnh hưởng đến giống nòi và thuần phong mỹ tục của dân tộc, kéo theo sự xuống cấp của đạo đức xã hội và là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Bị cáo nhận thức được việc sử dụng ma túy là nguy hiểm và vi phạm pháp luật nhưng do đua đòi bị cáo vẫn cố tình mua ma túy để sử dụng nên cần áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[2.3] Khi xem xét, cân nhắc hình phạt cần xem xét các tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ đối với bị cáo là phù hợp.
[2.4] Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định, bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy không vì mục đích vụ lợi. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Huy T2.
[2.5] Trong vụ án này:
- Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo khai mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ tại khu vực tổ C, thị trấn Q, huyện Q nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để điều tra, xử lý.
- Số tiền 200.000 đồng của bị cáo sử dụng để mua ma túy là do bị cáo lao động mà có nên không truy thu.
[3] Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 0,1253 gam ma túy hoàn trả lại sau giám định có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Q và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ ngày 25/3/2024 cần tịch thu, tiêu hủy.
[4] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Huy T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Huy T2 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng điều luật và hình phạt:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T2: 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 08/01/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Huy T2.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố Tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 0,1253 gam ma túy hoàn trả lại sau giám định có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Q và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ ngày 25/3/2024.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Bị cáo Nguyễn Huy T2 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Nguyễn Huy T2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/4/2024).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Bình; - TAND tỉnh Thái Bình; - Sở tư pháp Thái Bình; - VKSND huyện Quỳnh Phụ; - THADS huyện Quỳnh Phụ; - Cơ quan điều tra, Cơ quan THAHS Công an huyện Quỳnh Phụ; - Bị cáo; Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Văn Thành |