- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng A C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; luật Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH ĐIỆN BIÊN ______________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2024/HS-ST Ngày: 07-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sao
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Hiền
2. Ông Khoàng Văn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Hà Trung Hải - Kiểm sát viên.
- Người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần: Ông Lò Văn Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng A C, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1982 tại huyện U, tỉnh Lai Châu; Nơi thường trú: Bản T, xã G, huyện U, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số Căn cước công dân: 012082006xxx, cấp ngày 15/8/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an; Con ông Vàng A D (đã chết) và bà Hảng Thị T; Bị cáo có vợ là Giàng Thị N1 và 07 người con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 28/12/2023, sau đó tạm giam từ ngày 03/01/2024 cho tới nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 00 phút, ngày 28/12/2023, tổ công tác của Phòng phòng chống ma túy và tội phạm – Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên phối hợp với Đồn Biên phòng S và Công an huyện N đang làm nhiệm vụ tại khu vực bản Đ, xã P, huyện N, tỉnh Điện Biên, phát hiện Vàng A C đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật nên đã yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Sau khi nghe tổ công tác giải thích, Vàng A C đã tự giác lấy từ trong miệng ra 01 gói nilon màu trắng, miệng gói được hơ lửa hàn kín, bên trong có chứa chất bột màu trắng đục giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã đưa Vàng A C cùng vật chứng về trụ sở Công an xã P và mời người chứng kiến, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng nêu trên.
Tại cơ quan điều tra Vàng A C khai nhận: 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng đục là Heroine của Vàng A C. Nguồn gốc gói Heroine này là C mua của 01 người đàn ông không quen biết tại khu vực đầu bản Đ, xã Ch, huyện N, tỉnh Điện Biên với giá 100.000 đồng vào chiều ngày 28/12/2023. Sau khi mua được Heroine, C nằm nghỉ ở bên đường, đến 17 giờ cùng ngày C đi bộ từ bản Đ, xã Ch theo hướng ra bản Đ, xã P tìm mua nước uống. Khi đi đến đầu bản Đ, C nhìn thấy tổ công tác đang làm nhiệm vụ nên đã lấy gói Heroine từ trong túi áo đang mặc bỏ vào miệng C. Sau khi tổ công tác giải thích, C đã tự giác giao nộp gói Heroine trong miệng cho tổ công tác.
Tại Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định ngày 29/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N xác định: Chất bột dạng nén màu trắng đục nghi là Heroine thu giữ của Vàng A C có khối lượng 0,48 (không phẩy bốn tám) gam, trích toàn bộ mẫu vật gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số: 124/KL-KTHS, ngày 31/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên kết luận:
“- Vật chứng thu giữ của Vàng A C có khối lượng là 0,48 gam chất bột màu trắng đục là chất ma túy: Loại Heroin (Heroine).
- Hoàn lại đối tượng giám định và toàn bộ bao bì niêm phong cũ có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo”.
Tại bản Cáo trạng số: 14/CT-VKSNP ngày 29/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Vàng A C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Vàng A C đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vàng A C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Vàng A C từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.
Bị cáo Vàng A C nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì thêm. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố đối với bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Vàng A C thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Vào hồi 18 giờ 00 phút, ngày 28/12/2023, Vàng A C đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,48 (không phẩy bốn mươi tám) gam, được Của cất giấu trong miệng, khi đang đi bộ tại khu vực bản Đ, xã P, huyện N, tỉnh Điện Biên. Nguồn gốc số Heroine này là do bị cáo mua của một người đàn ông không quen biết với giá 100.000 đồng vào chiều ngày 28/12/2023 tại khu vực bản Đ, xã Ch, huyện N. Mục đích bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là để bản thân sử dụng vì bị cáo là người nghiện ma túy. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.
Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vàng A C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn huyện N vì ma túy không chỉ gây hủy hoại sức khỏe của con người, mà còn là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, không bị ai xúi giục. Do đó, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, để bị cáo cải tạo bản thân và làm gương răn đe, giáo dục trong Nhân dân.
Về nhân thân: Bị cáo Vàng A C xuất thân trong gia đình nông dân nhưng không chịu lao động, không làm chủ được bản thân nên đã nghiện ma túy. Ngoài lần phạm tội này, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Khi bị bắt giữ bị cáo luôn thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Tại phiên tòa, bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo là người nghiện ma túy, nghề nghiệp chính là trồng trọt, thu nhập không ổn định, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, bản thân bị cáo không có tài sản riêng có giá trị nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Vật chứng là 0,33 (không phẩy ba mươi ba) gam Heroine hoàn lại sau khi giám định, bao bì niêm phong cũ (theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 31/12/2023 giữa Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên và Đồn Biên phòng Si Pha Phìn), Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tịch thu tiêu hủy.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong vụ án Vàng A C khai đã mua Heroine của 01 người đàn ông không quen biết vào chiều ngày 28/12/2023 ở đầu bản Đ, xã Ch, huyện N, tỉnh Điện Biên. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ của người đàn ông này ở đâu nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không có căn cứ để điều tra, làm rõ xử lý theo quy định, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát và bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, xét thấy gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo theo Quyết định số 234/QĐ-UBND, ngày 07/12/2023 của Ủy ban nhân dân xã G về việc công nhận kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo có mức sống trung bình năm 2023 nên Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng A C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng A C 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 28/12/2023.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,33 (không phẩy ba mươi ba) gam Heroine hoàn lại sau khi đã giám định và phong bì niêm phong cũ (theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định giữa Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên với Đồn Biên phòng Si Pha Phìn vào ngày 29/12/2023).
(Vật chứng được đựng trong phong bì niêm phong như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng A C.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Vàng A C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 07/5/2024./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện N; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Phòng KTNV&THA – TAND tỉnh; - Bộ phận HSNV Công an huyện N; - Cơ quan CSĐT CA huyện N; - Cơ quan THAHS CA N; - Nhà tạm giữ CA huyện N - Chi cục THADS huyện N; - Cơ quan THAHS CA tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Lưu HS: VA, THAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Sao |