vanban.org

Bản án 33/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 26/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn K, Dương Văn H - Điều 249, 251 - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NA HANG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HS-ST
Ngày: 26 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NA HANG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Lương Hữu San

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lương Quang Toán

2. Ông Quan Văn Ngụ

- Thư ký phiên toà: Bà Duy Minh Hà – Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Na Hang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang tham gia phiên toà: Ông Ma Công Đằng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại nhà văn hóa UBND xã Thượng Nông, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, Toà án nhân dân huyện Na Hang mở phiên tòa sơ thẩm xét xử lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2024/TLST-HS, ngày 22 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn K, sinh ngày 21/5/1974 tại huyện M, tỉnh Hà Giang.

Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Nh và bà Nguyễn Thị C (đều đã chết); vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1974; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2017/HSST ngày 05/4/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng xử phạt 40 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/9/2019.

+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2021/HSST ngày 06/5/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang xử phạt 08 tháng tù về tội Đánh bạc chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/3/2022.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang (có mặt tại phiên tòa).

2. Dương Văn H, sinh ngày 24/7/1980 tại huyện N, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi cư trú: Thôn X, xã Y, huyện N, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn B (đã chết) và bà Chương Thị Th, sinh năm 1962; vợ: Dương Thị N, sinh năm 1979; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2003; tiền án: Không.

Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 32/QĐ-XPHC ngày 08/7/2024 bị Công an huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 1.250.000đ về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

Nhân thân:

+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 390/QĐ-XPHC ngày 28/3/2013, bị Công an huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 2.000.000đ về hành vi Chống người thi hành công vụ.

+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2020/HS-ST ngày 17/12/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/3/2022.

+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 19/QĐ-XPHC ngày 31/10/2022, bị Công an xã Yên Hoa, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 1.500.000đ về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 15/7/2024, Nguyễn Văn K một mình đi đến chợ Pác Miầu, thuộc thị trấn Pác Miầu, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng và bán kiếm lời. Đến nơi, K gặp một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ), K hỏi mua 500.000đ ma túy loại thuốc phiện và Heroine. Người đàn ông này đồng ý, K đưa cho người đàn ông này 500.000đ, người này cầm tiền bảo K chờ, sau đó đi khoảng 15 phút và quay lại đưa cho K 01 túi nilon màu trắng, bên trong có thuốc phiện màu đen và 01 gói nhỏ bên ngoài bọc bằng giấy trắng có dòng kẻ, bên trong chứa chất bột vón cục màu trắng là Heroine. Mua được ma túy, K về nhà cất giấu gói nhỏ Heroine ở đầu giường ngủ mục đích để bán, còn số thuốc phiện K lấy một phần ra sử dụng, số còn lại cất giấu ở bàn gỗ, kê ở nhà tắm trong phòng ngủ của K mục đích để sử dụng dần.

Khoảng 13 giờ ngày 24/7/2024, Dương Văn H gọi điện thoại cho K hỏi mua 300.000đ ma túy loại Heroine, K đồng ý. Sau đó H đi nhờ xe mô tô của người đi đường không quen biết đến thôn P, xã Đ, huyện M để gặp K. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, H đến cách nhà K khoảng 500m, gọi điện thoại cho K, K hẹn 15 phút sau ra gặp. K lấy gói nhỏ Heroine cất giấu trước đó san một ít vào trong giấy trắng có dòng kẻ gói lại và cất vào túi quần để bán cho H, số còn lại K gói lại như cũ cất giấu ở đầu giường ngủ, sau đó điều khiển xe mô tô đến gặp H, H đưa cho K 300.000đ, K đưa lại cho H 01 gói nhỏ ma túy, gói bằng giấy trắng có dòng kẻ bên trong là chất ma túy loại Heroine. Sau khi bán ma túy xong, K điều khiển xe máy đi về, H tìm chỗ vắng người, lấy gói ma túy vừa mua được san một ít sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể. Số còn lại H gói lại như cũ cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc, sau đó đi nhờ xe mô tô của người không quen biết về nhà.

Hồi 17 giờ cùng ngày, khi H về đến thôn Đống Đa 2, xã Thượng Nông, huyện Na Hang, H xuống xe đi bộ thì gặp Tổ công tác Công an huyện Na Hang, nghi ngờ H tàng trữ trái phép chất ma túy Tổ công tác yêu cầu H dừng lại để làm việc. Quá trình làm việc H tự giác giao nộp gói ma túy đã cất giấu, khai nhận là Heroine mua của K về để sử dụng. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong gói nhỏ ma túy thu giữ của H để giám định.

Hồi 10 giờ ngày 25/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Na Hang khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn K thu giữ tại phòng ngủ của K: 01 gói nhỏ bên ngoài gói bằng túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột vón cục màu trắng xanh (ký hiệu A1); 01 gói bên ngoài gói bằng nilon màu trắng bên trong có chứa các viên nén màu xanh bám dính chất bột vón cục màu trắng (ký hiệu A2); 01 gói nhỏ bên ngoài bọc bằng giấy trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột vón cục màu trắng (ký hiệu A3). 02 gói nhỏ bên ngoài bọc bằng nilon màu trắng, bên trong cả hai gói đều chứa chất màu đen (ký hiệu A4); 01 túi nilon dạng túi díp bên trong có chứa chất vón cục màu đen và 01 gói nhỏ bên ngoài là lớp nilon mà trắng bên trong chứa chất màu đen (ký hiệu A5); 01 túi nilon dạng túi díp bên trong có chứa chất màu đen (ký hiệu A6); 01 chén sứ có hoa văn và tai cầm, đường kính miệng chén 6,5cm; 01 lọ thủy tinh có chiều cao 5,5cm, đường kính 02cm, bên trong có gắn 01 sợi dây; 01 chụp đèn bằng thủy tinh đã bị vỡ, bên ngoài dán băng dính màu đen; số tiền 3.000.000đ.

Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể Dương Văn H hồi 18 giờ 45 phút ngày 24/7/2024, kết quả: (+) Dương tính với chất ma túy.

Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể Nguyễn Văn K hồi 14 giờ 40 phút ngày 26/7/2024, kết quả: (+) Dương tính với chất ma túy.

Kết luận giám định số 991/KL-KTHS ngày 29/7/2024, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang đối với chất ma túy thu giữ của Dương Văn H, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là chất ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng 0,126g (Không phẩy một hai sáu gam).

Kết luận giám định số 1050/KL-KTHS ngày 06/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang đối với chất ma túy thu giữ của Nguyễn Văn K, kết luận:

- 03 (ba) viên nén màu xanh và chất bột màu trắng xanh trong bì niêm phong ký hiệu A1, A2 gửi giám định tìm thấy Codeine và Terpin; tổng khối lượng 0,853g (Không phẩy tám năm ba gam).

+ Codeine được quy định tại số thứ tự 6, danh mục IIB, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

+ Codeine được điều chỉnh tại số thứ tự 973, theo phụ lục I, Thông tư 20/2022/TT-BYT ngày 31/12/2022 (Codeine phối hợp Terpin trong y tế dùng làm thuốc chữa ho).

- Chất bột vón cục màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A3 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, khối lượng 0,014g (Không phẩy không một bốn gam).

- Chất dẻo màu đen trong bì niêm phong ký hiệu A4, gửi giám định không phải là chất ma túy, khối lượng 1,203g (Một phẩy hai không ba gam).

- Chất dẻo màu đen trong bì niêm phong ký hiệu A5 gửi giám định là chất ma túy loại thuốc phiện; khối lượng 0,544g (Không phẩy năm bốn bốn gam).

- Tìm thấy hoạt chất chính của thuốc phiện trong chất màu đen ở bì niêm phong ký hiệu A5 gửi giám định; khối lượng 3,216g (Ba phẩy hai một sau gam).

- Tìm thấy hoạt chất chính của thuốc phiện trong chất màu đen ở bì niêm phong ký hiệu A6 gửi giám định; khối lượng 2,630g (Hai phẩy sáu ba không gam).

Kết luận giám định số 6891/KL-KTHS ngày 18/9/2024 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an, đối với chất màu đen tìm thấy hoạt chất chính của thuốc phiện (Ký hiệu A1, A2) thu giữ của Nguyễn Văn K, kết luận:

Hàm lượng Morphine trong mẫu 3,0gam chất màu đen ký hiệu A1 gửi giám định là 0,40%. Hàm lượng Morphine trong mẫu 2,4gam chất màu đen ký hiệu A2 gửi giám định là 0,27%.

- Khối lượng Thuốc phiện trong 3,0gam mẫu chất màu đen ký hiệu A1 (được quy đổi theo Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ) gửi giám định là 0,120gam.

- Khối lượng Thuốc phiện trong 2,4gam mẫu chất màu đen ký hiệu A2 (được quy đổi theo Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ) gửi giám định là 0,064gam.

Tổng khối lượng: 0,544 + 3,216 x 0,40% x 10 + 2,630 x 0,27% x 10 = 0,743 gam thuốc phiện.

Tại Cáo trạng số 32/CT-VKSNH, ngày 22/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố Nguyễn Văn K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố Dương Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Văn K, Dương Văn H theo tội danh, điều luật đã nêu trong bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; tuyên bố bị cáo Dương Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng đến 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (26/7/2024). Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Dương Văn H từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (24/7/2024). Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 03 phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy; 01 bộ dụng cụ tự chế gồm: 01 chén sứ màu trắng, 01 chụp đèn dầu bằng thủy tinh và 01 lọ thủy tinh.

+ Trả lại cho bị cáo Dương Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel Play50 đã qua sử dụng, có gắn thẻ Sim điện thoại nhưng tạm giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.

(Tình trạng các vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Na Hang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Na Hang ).

+ Truy thu của bị cáo Nguyễn Văn K số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn K số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng) nhưng tạm giữ lại để đảm bảo cho công tác thi hành án.

Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Nguyễn Văn K, Dương Văn H. Đồng thời tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn K đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo khai số ma túy Heroine và thuốc phiện mà Công an cơ quan Công an huyện Na Hang thu giữ khi khám xét tại nhà bị cáo vào ngày 25/7/2024 có nguồn gốc do bị cáo mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực chợ Pác Miầu thuộc thị trấn Pác Miầu, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng vào ngày 15/7/2024 với giá 500.000đ đem về nhà cất giữ thuốc phiện để sử dụng cho bản thân và cất giữ Heroine để bán kiếm lời. Chiều ngày 24/7/2024, khi Dương Văn H gọi điện thoại hỏi mua ma túy nên của bị cáo đã san một ít Heroine mua được trước đó gói vào tờ giấy trắng có dòng kẻ đưa cho H và nhận của H số tiền 300.000đ. Khi khám xét nhà bị cáo cơ quan Công an đã thu giữ được 0,014g Heroine và 0,743g thuốc phiện. Ngoài ra, cơ quan Điều tra còn thu giữ tại nhà bị cáo số tiền 3.000.000đ, đây là tiền bị cáo chuẩn bị làm đám giỗ cho mẹ bị cáo đã chết, không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy.

Bị cáo Dương Văn H khai nhận, do nghiện ma túy nên chiều ngày 24/7/2024, bị cáo đã gọi điện cho bị cáo Nguyễn Văn K để hỏi mua ma túy, sau đó bị cáo đi nhờ xe máy của một người không quen biết đến nhà của bị cáo K tại thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Hà Giang và được K bán cho 01 gói nhỏ Heroine với giá 300.000đ. Mua được ma túy xong, bị cáo đã lấy ra sử dụng một ít bằng cách đốt hít vào cơ thể, số còn lại bị cáo cất giữ trong người với mục đích để sử dụng dần rồi đi về nhà. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn Đống Đa 2, xã Thượng Nông, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang bị cáo bị tổ Công tác Công an huyện Na Hang lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Bị cáo đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan Công an gói ma túy mà trước đó bị cáo mua của bị cáo Nguyễn Văn K chưa sử dụng hết.

Trình bày lời nói sau cùng, các bị cáo đều đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về việc xem xét hành vi của các bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn K, Dương Văn H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung mà bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang đã truy tố đối với các bị cáo. Ngoài lời khai nhận của các bị cáo, hành vi phạm tội của Nguyễn Văn K, Dương Văn H còn được chứng minh bằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ; các Kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ, do đó có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 24/7/2024, tại thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Hà Giang, Nguyễn Văn K đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy loại Heroine cho Dương Văn H lấy 300.000đ. Hồi 10 giờ ngày 25/7/2024, tại nhà ở của mình thuộc thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Hà Giang, Nguyễn Văn K có hành vi tàng trữ trái phép 0,014 gam Heroine mục đích để bán và tàng trữ trái phép 0,743 gam thuốc phiện mục đích để sử dụng.

Hồi 17 giờ ngày 24/7/2024, tại thôn Đống Đa 2, xã Thượng Nông, huyện Na Hang, Dương Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Heroine khối lượng 0,126g (Không phẩy một trăm hai mươi sáu gam), mục đích để sử dụng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn K đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Dương Văn H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, vi phạm pháp luật hình sự, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý về chất ma túy của nhà nước và có thể là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam tương xứng với hành vi, mức độ phạm tội của từng bị cáo để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thể hiện các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; cả hai bị cáo đều là người dân tộc thiểu số nên khả năng nhận thức pháp luật còn một phần bị hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định mức án đối với các bị cáo cho phù hợp.

Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Qúa trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn K 0,014g Heroine và 0,743g thuốc phiện; thu giữ của bị cáo Dương Văn H 0,126g Heroine, sau khi đã lấy đi giám định số còn lại được niêm phong trong 03 phong bì là vật chứng của vụ án, thuộc loại nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Đối với 01 bộ dụng cụ tự chế gồm: 01 chén sứ màu trắng, 01 chụp đèn dầu bằng thủy tinh và 01 lọ thủy tinh do cơ quan Điều tra thu giữ tại nhà bị cáo Kim được xác định là dụng cụ để sử dụng ma túy trái phép, không còn giá trị sử dụng nên cũng cần tịch thu để tiêu hủy.

Đối với số tiền 300.000đ bị cáo Nguyễn Văn K có được do bán ma túy cho Dương Văn H vào ngày 24/7/2024, là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra, cơ quan Điều tra còn thu giữ của bị cáo Dương Văn H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel Play50 đã qua sử dụng; thu giữ tại nhà bị cáo K số tiền 3.000.000đ. Hội đồng xét xử xét thấy chiếc điện thoại di động là phương tiện liên lạc hàng ngày của bị cáo H, không liên quan trực tiếp đến tội phạm; số tiền 3.000.000đ là tài sản riêng của bị cáo K chuẩn bị để làm đám giỗ cho mẹ đẻ, không phải tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tuyên trả chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel Play50 cho bị cáo H, tuyên trả số tiền 3.000.000đ cho bị cáo K, nhưng tạm giữ lại để đảm bảo cho công tác thi hành án.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo Nguyễn Văn K và bị cáo Dương Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nhưng bị cáo Nguyễn Văn K là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; gia đình bị cáo Dương Văn H thuộc diện hộ nghèo nên các bị cáo được miễn toàn bộ tiền án phí.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về các vấn đề khác:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Dương Văn H vào ngày 24/7/2024 đã bị Công an huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.250.000đ.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép 0,743 gam chất ma túy thuốc phiện mục đích để sử dụng và sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Văn K đã bị Công an huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với tổng số tiền 4.250.000đ.

Đối với người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Nguyễn Văn K vào ngày 15/7/2024 tại khu vực chợ Pác Miầu thuộc thị trấn Pác Miầu, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng (theo lời khai của bị cáo K). Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra, xác minh theo quy định nhưng không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án.

Do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý đối với các vấn đề trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

* Áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý".

* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Dương Văn H phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2. Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (26/7/2024).

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Dương Văn H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (24/7/2024).

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 03 phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy; 01 bộ dụng cụ tự chế gồm: 01 chén sứ màu trắng, 01 chụp đèn dầu bằng thủy tinh và 01 lọ thủy tinh.

- Trả lại cho bị cáo Dương Văn H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel Play50 đã qua sử dụng nhưng tạm giữ lại để đảm bảo cho công tác thi hành án.

(Tình trạng các vật chứng như trong Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/11/2024 giữa Công an huyện Na Hang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang).

- Truy thu của bị cáo Nguyễn Văn K số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) sung vào ngân sách nhà nước.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn K số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng) hiện đang được tạm gửi tại tài khoản số 3949.0.1065086.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Na Hang tại Kho bạc nhà nước huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang (theo Giấy ủy nhiệm chi ngày 27/11/2024) nhưng tạm giữ lại để đảm bảo cho công tác thi hành án.

4. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 136, 331, 333 Bộ Luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Nguyễn Văn K, Dương Văn H.

- Các bị cáo Nguyễn Văn K, Dương Văn H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ