- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án Phan Văn H cùng đồng phạm phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: các bị cáo Phan Văn H, Phùng Anh Nh, Nguyễn Bùi Anh T và Phùng Thái H phạm tội: “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt các; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NH DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2024/HS-ST Ngày: 12-3-2024 |
NH DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Quỳnh
Các Hội thẩm Nh dân: Ông Nguyễn Xuân Ban
Ông Nguyễn Thanh Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Trọng Th – là Thư ký Tòa án Nh dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát Nh dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án Nh dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Phan Văn H, sinh năm: 1967, tại: Lâm Đồng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: tổ dân phố HL, thị trấn ĐV, huyện LH, tỉnh LĐ; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Nhơn (đã chết) và bà Châu Thị Sử; tiền án, tiền sự: không; Nh thân: tại bản án số 893 ngày 16/9/1992 của Tòa án Nh dân tối cao xử phạt bị cáo Phan Văn H 05 năm tù về tội giết người và 01 năm tù về tội tàng trữ vũ khí quân dụng; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Phùng Anh Nh, sinh năm: 1971; tại: Hà Nội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: thôn MH, xã HĐ, huyện LH, tỉnh LĐ; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn Quế và bà Bùi Thị Hiền (cả hai đều đã chết); có vợ là Lê Thị Ngọc Loan, sinh năm 1983; có 02 người con sinh năm 2012 và 2016; tiền án, tiền sự: không; Nh thân: năm 2010 Công an huyện Đơn Dương xử phạt hành chính về hành vi vận chuyển hàng hóa nhập lậu; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Phùng Thái H, sinh năm: 1976, tại: H Dương; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: thôn Đ H, xã HĐ, huyện LH, tỉnh LĐ; nghề nghiệp: thợ rửa xe; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn Miên và bà Đỗ Thị Bình; có vợ là Nguyễn Diệu Linh, sinh năm 1980; có 01 người sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4. Nguyễn Bùi Anh T, sinh năm: 1970; tại: Khánh Hòa; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: tổ dân phố 3, phường NH, thị xã NH, tỉnh KH; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc (đã chết) và bà Bùi Thị Tân; có vợ là Nguyễn Thị Huệ (đã ly hôn); có 01 người con sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hữu Th, sinh năm 1970. Địa chỉ: Thôn NH, xã HĐ, huyện LH, tỉnh LĐ. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 25/9/2023, Phùng Anh Nh, Phùng Thái H, Nguyễn Bùi Anh T, Phan Văn H cùng có mặt tại nhà ở của ông Nguyễn Hữu Th thuộc thôn NH, xã HĐ, huyện LH, tỉnh LĐ (thường gọi là nhà xe Th Pho) để chờ chủ nhà xe mua đồ về sửa thì Nh, H, T, H cùng rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh “Phỏm” Th thua bằng tiền. Phùng Anh Nh sử dụng số tiền 60.000 đồng của mình để mua 04 (bốn) bộ bài tú lơ khơ, loại 52 lá làm công cụ đánh bạc. Sau đó, Nh, H, T, H đi xuống phòng ngủ của nhà xe Th Pho và cùng nhau đánh bạc dưới hình thức đánh Phỏm Th thua bằng tiền. Đến 12 giờ 00 phút cùng ngày, khi các bị can đang cùng nhau đánh bạc thì bị Công an huyện Lâm Hà phát hiện và bắt quả tang.
Cách thức đánh bạc như sau: Một trong số bốn người chơi sẽ lấy bộ bài tây 52 lá chia cho những người còn lại mỗi người 9 lá, bản thân người chia sẽ được 10 lá. Tất cả các lá bài dư được đặt ở giữa bàn, gọi là Nọc. Người chia bài chơi đầu tiên sẽ đánh ra 1 lá bài. Người tiếp theo sẽ ăn lá bài đó nếu nó hợp với các lá bài đang có tạo thành Phỏm. Nếu người tiếp theo không ăn lá bài đó thì sẽ pH bốc 1 lá bài trong Nọc. Sau khi ăn bài/ bốc bài, người chơi pH đánh ra 1 lá bài. Cứ tiếp tục như vậy cho đến hết vòng. Theo luật chơi Phỏm, ván bài sẽ kết thúc khi trong bàn có 1 người chơi ù. Nếu trong bàn không có ai ù, sau 4 lượt ván bài sẽ kết thúc. Khi đánh lượt cuối, người chơi pH hạ tất cả Phỏm mình đang có, sau đó gửi các lá bài có thể gửi vào Phỏm của những người chơi đã hạ bài rồi mới đánh quân cuối cùng. Các quân bài còn lại sẽ được giữ lại để tính điểm khi kết thúc ván bài. Khi tham gia đánh bạc, các bị can quy định: người về nhất thì ăn của người về nhì 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng), ăn của người về ba 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), ăn của người về bét 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng), ai bị cháy thì sẽ mất với người về nhất 200.000 đồng, nếu ai bị người khác ăn cây chốt thì người đó sẽ pH mất với người này số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), nếu ai ù thì những người còn lại pH đưa cho người ù 250.000 đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Quá trình điều tra đã xác định được: Phùng Thái H mang theo số tiền 4.750.000 đồng (bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), H sử dụng hết số tiền trên vào mục đích đánh bạc. Khi bị Cơ quan Công an bắt quả tang. H đang Th được số tiền 350.000 đồng (ba trăm năm mươi nghìn đồng); Phan Văn H mang theo số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Phan Văn H sử dụng 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm nghìn đồng) vào mục đích đánh bạc, còn lại 8.400.000 đồng (Tám triệu bốn trăm nghìn đồng) H không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Khi bị Cơ quan Công an bắt quả tang H đang thua số tiền 1.150.000 đồng (Một triệu một trăm năm mươi nghìn đồng); Phùng Anh Nh mang theo 2.100.000 đồng (hai triệu một trăm nghìn đồng). Nh sử dụng tất cả số tiền này vào mục đích đánh bạc, trong đó có 60.000 đồng (sáu mươi nghìn đồng) để mua bài là công cụ phục vụ việc đánh bạc, còn 2.040.000 đồng (hai triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng) Nh trực tiếp sử dụng vào việc đánh bạc ăn thua với H, T, H. Khi bị bắt quả tang thì Phùng Anh Nh đang Th được 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng); Bị can Nguyễn Bùi Anh T mang theo số tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng), T sử dụng tất cả số tiền trên vào mục đích đánh bạc. Khi Cơ quan Công an bắt quả tang T đang huề tiền, không Th cũng không thua. Tổng số tiền mà các bị can sử dụng để đánh bạc là 11.950.000 đồng (Mười một triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng). Quá trình đánh bạc không có ai đứng ra tổ chức, canh gác, thu tiền xâu, cho vay hay cầm cố tài sản.
Vật chứng, tài sản thu giữ gồm:
- 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá đã qua sử dụng, 03 bộ bài tú lơ khơ 52 lá chưa sử dụng, 01 nệm màu xanh;
- Thu giữ dưới chiếu bạc vị trí trước mặt các đối tượng: Số tiền 5.050.000đ (năm triệu không trăm năm mươi ngàn đồng). Thu giữ vị trí trước mặt dưới chiếu bạc của Phan Văn H số tiền 450.000đồng (bốn trăm năm mười ngàn đồng); Thu giữ vị trí trước mặt dưới chiếu bạc của Phùng Thái H số tiền 1.800.000đồng (một triệu tám trăm ngàn đồng). Thu giữ vị trí trước mặt dưới chiếu bạc của Phùng Anh Nh số tiền 2.800.000đồng (hai triệu tám trăm ngàn đồng).
- Thu giữ trên người các đối tượng: Phan Văn H số tiền: 8.400.000đồng (Tám triệu bốn trăm ngàn đồng); Phùng Thái H số tiền: 3.300.000đồng (Ba triệu ba trăm ngàn đồng); Phùng Anh Nh số tiền: 40.000đồng (Bốn mươi ngàn đồng); Nguyễn Bùi Anh T số tiền: 3.500.000đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng).
Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 25/01/2024 của Viện kiểm sát Nh dân huyện Lâm Hà đã truy tố ra trước Tòa án Nh dân huyện Lâm Hà để xét xử các bị can Phùng Anh Nh, Phan Văn H, Nguyễn Bùi Anh T và Phùng Thái H về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không khiếu nại hay thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát Nh dân huyện Lâm Hà giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Phùng Anh Nh, Phan Văn H, Nguyễn Bùi Anh T và Phùng Thái H về tội: “Đánh bạc”.
Về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn H 12 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung từ 20 triệu đến 30 triệu đồng để sung ngân sách nhà nước.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phùng Thái H từ 30 triệu đến 35 triệu đồng để sung ngân sách nhà nước.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phùng Anh Nh từ 25 triệu đến 30 triệu đồng để sung ngân sách nhà nước.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Bùi Anh T từ 25 triệu đến 30 triệu đồng để sung ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền liên quan đến hành vi đánh bạc 11.890.000đồng, tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá đã qua sử dụng, 03 bộ bài tú lơ khơ 52 lá chưa sử dụng, 01 nệm màu xanh.
Các bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lâm Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát Nh dân huyện Lâm Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận: Vào khoảng thời gian từ 10 giờ 30 phút đến 12 giờ 00 phút ngày 25/9/2023, các bị cáo Nh, H, T và H đã có hành vi cùng nhau đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh phỏm Th thua bằng tiền thì bị Công an bắt quả tang cùng tang vật. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích để đánh bạc cơ quan Công an chứng minh được là 11.950.000đồng.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tang vật thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Phùng Anh Nh, Phan Văn H, Nguyễn Bùi Anh T và Phùng Thái H phạm tội: “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh phỏm Th thua bằng tiền của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý với động cơ sát phạt lẫn nhau nhằm tước đoạt tiền bạc của nhau là hành vi vi phạm pháp luật, là tệ nạn xã hội nên Nhà nước nghiêm cấm đánh bạc dưới mọi hình thức. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và nếp sống văn minh tại địa phương, đồng thời là nguyên Nh làm phát sinh mâu thuẫn gia đình và các tệ nạn khác ngoài xã hội. Vì vậy, các bị cáo pH chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi đã thực hiện.
Xét vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này Cơ quan điều tra không chứng minh được bị cáo nào là người khởi xướng việc đánh bạc. Bị cáo H sử dụng số tiền nhiều nhất 4.750.000đồng, quá trình đánh bạc bị cáo Th được 350.000đồng. Bị cáo T sử dụng 3.500.000đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc bị cáo huề. Bị cáo Nh sử dụng 2.100.000đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc bị cáo Th được 800.000đồng. Bị cáo H sử dụng số tiền 1.600.000đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc bị cáo thua 1.150.000đồng. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, phạm tội mang tính bộc phát, trong thời gian chờ chủ nhà mua đồ về sửa xe thì các bị cáo rủ nhau đánh bạc.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Các bị cáo phạm tội không thuộc trường hợp bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo H, Nh có Nh thân không tốt; bị cáo H, T đều chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện. Vì vậy bị cáo H - Nh được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo H - T được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo H sử dụng số tiền để đánh bạc nhiều nhất nên bị cáo pH chịu trách nhiệm hình sự cao nhất trong vụ án; bị cáo H, Nh tham gia đánh bạc với số tiền ít hơn bị cáo T và chênh nhau không lớn nhưng bị cáo H và Nh đều có Nh thân không tốt nên xử phạt các bị cáo H, Nh, T với mức hình phạt bằng nhau và thấp hơn bị cáo H.
Căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn đánh bạc xảy ra trên địa bàn huyện Lâm Hà ngày càng nhiều nên cần áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo hình phạt chính là cải tạo không giam giữ, giao các bị cáo cho Ủy ban Nh dân nơi cư trú và gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp. Các bị cáo đều là dân lao động, thu nhập không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho tất cả các bị cáo.
Tuy nhiên, để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật đối với loại tội phạm này hiện nay đang có chiều hướng gia tăng trên địa bàn huyện Lâm Hà nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự nhằm đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra thu giữ 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá đã qua sử dụng, 03 bộ bài tú lơ khơ 52 lá chưa sử dụng, các bộ bài này là do bị cáo Nh mua, đây là công cụ liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
01 nệm màu xanh là nệm của nhà ông Nguyễn Hữu Th các bị cáo đã sử dụng để ngồi đánh bạc, tại phiên tòa hôm nay ông Th không yêu cầu nhận lại chiếc nệm này, hiện chiếc nệm không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Số tiền 11.890.000đồng liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của Phan Văn H số tiền 8.400.000đồng, số tiền này không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị cáo H. Tại phiên tòa, bị cáo H xác định đã nhận lại số tiền 8.400.000đồng, không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Các bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: các bị cáo Phan Văn H, Phùng Anh Nh, Nguyễn Bùi Anh T và Phùng Thái H phạm tội: “Đánh bạc”.
1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Phùng Thái H 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Phan Văn H 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
1.3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Phùng Anh Nh 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
1.4. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Bùi Anh T 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Miễn khấu trừ thu nhập cho tất cả các bị cáo.
Giao bị cáo Phan Văn H cho Ủy ban Nh dân thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục. Giao bị cáo Phùng Anh Nh và Phùng Thái H cho Ủy ban Nh dân xã Hoài Đức, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục. Giao bị cáo Nguyễn Bùi Anh T cho Ủy ban Nh dân phường NH, thị xã NH, tỉnh KH giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Các bị cáo pH thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.
2. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Phạt bổ sung bị cáo Phùng Thái H 15.000.000đồng (mười lăm triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.
Phạt bổ sung các bị cáo Phan Văn H, Phùng Anh Nh, Nguyễn Bùi Anh T mỗi bị cáo 10.000.000đồng (mười triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tuyên:
+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 11.890.000đồng (mười một triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng).
+ Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng, 03 bộ bài tú lơ khơ còn nguyên, 01 nệm màu xanh.
(Tất cả có đặc điểm như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 27/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà).
4. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc các bị cáo mỗi người pH nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/3/2024), để yêu cầu Toà án Nh dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (02); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - VKS, CA huyện Lâm Hà; - Chi cục THADS huyện Lâm Hà; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu HS - BP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Xuân Ban Nguyễn Thanh Hà | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhƣ Quỳnh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhƣ Quỳnh |