vanban.org

Bản án 33/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 13/08/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyến bố, bị cáo Th phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy".

Về điều luật áp dụng và mức hình phạt: Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổ…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyến bố, bị cáo Th phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO LÂM
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HS-ST
Ngày: 13-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH CAO BẰNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Đức Thọ;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà: Lương Thị Nụ;

2. Bà: Nông Thị Lan.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hạ Thị Soan -Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đạt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 22/7/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo:

Th, (tên gọi khác: Không); giới tính: Nam; sinh ngày 15 tháng 7 năm 1972 tại: huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng; nơi cư trú: xóm B1, xã Th1, huyện B2, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Trồng trọt; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 02/10; con ông: N (Đã chết); con bà: D (Đã chết); anh chị em ruột: bị cáo có 06 (Sáu) anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; vợ: Đ (Đã chết); con: bị cáo có 05 (Năm) con; con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 2002; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân:

- Ngày 21/11/2012, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện B3, tỉnh Hà Giang xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy” tại bản án số 06/2012/HS-ST.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng (Có mặt).

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: M, sinh ngày 06/01/1976; nơi cư trú: thôn B2, xã C1, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. (Có đơn xét xử vắng mặt)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng: V1, sinh ngày 07/3/1984; nơi cư trú: xóm B3, xã Y, huyện B2, tỉnh Cao Bằng. (Có đơn xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 00 phút ngày 14/4/2024, đội cảnh sát điều tra về ma tuý Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng phát hiện bắt quả tang tại nhà Th, sinh ngày 15/7/1972, trú tại: xóm B1, xã Th1, huyện B2, tỉnh Cao Bằng và V1, sinh ngày 07/3/1984, trú tại: xóm B3, xã Y, huyện B2, tỉnh Cao Bằng đang sử dụng trái phép chất ma túy.

Tài liệu đồ vật thu giữ, tạm giữ gồm:

- 01 (Một) gói nhỏ được gói bằng giấy vỏ bao thuốc lá du lịch bên trong có chứa chất bột màu trắng của Th (Th khai nhận là Heroine);

- Tiền Việt Nam số tiền: 4.610.000 đồng, của Th;

- 02 (Hai) mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy dở;

- 01 (Một) bật lửa màu vàng của V;

- Tiền Viện Nam số tiền: 135.000 đồng, tài sản của V1.

Ngày 14/4/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp số: 156/LKX-ĐTTH, khám xét chỗ ở của Th tại xóm B1, xã Th1, huyện B2, tỉnh Cao Bằng. Quá khám xét đã tạm giữ những đồ vật, tài liệu sau:

- 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh , màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng;

- 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu FONROX, màu đen, điện thoại bàn phím bấm, đã qua sử dụng;

- 06 (Sáu) mảnh giấy có kích thước 3x3 cm, các mảnh đều có một mặt màu trắng, một mặt nhiều màu sắc;

- Tiền Việt Nam số tiền: 2.310.000 đồng.

Ngoài ra không phát hiện, tạm giữ đồ vật, tài liệu gì khác.

Ngày 14/4/2024 Công an huyện Bảo Lâm phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm tiến hành mở niêm phong và cân khối lượng toàn bộ số chất bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Th có khối lượng 0,19 gam. Sau khi cân, tiến hành trích mẫu giám định có khối lượng là 0,03 gam để trưng cầu giám định.

Tại kết luận số: 249/KL-KTHS, ngày 24/4/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Cao Bằng kết luận: chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine.

Tại Cơ quan điều tra Th khai nhận:

Sáng ngày 14/4/2024 Th điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE S, BKS 97B1-388.62 của Th mua với số tiền 19.700.000 đồng, do bị mất Chứng minh thư nhân dân, Th có nhờ bà M trú tại: thôn B2, xã C1, huyện P, tỉnh Bắc Kạn đứng tên đăng ký chủ sở hữu, khi điều khiển xe máy đến khu vực gần cầu giáp ranh huyện B3, tỉnh Hà Giang và huyện B1, tỉnh Cao Bằng khu vực xóm L, thị trấn P, Th gặp một người đàn ông không biết họ, tên, địa chỉ ở đâu. Th thấy người đàn ông này đang chuẩn bị sử dụng ma túy, liền hỏi mua Heroine được người đàn ông này bán cho một gói với số tiền 500.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, Th đem về nhà, lấy một ít để bản thân sử dụng, bằng hình thức hít, số ma túy còn lại Th cất giấu trong túi áo đang mặc.

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 14/4/2024 Th đang sử dụng trái phép chất ma túy trong nhà thì có V1 đến và hỏi mua Heroine với Th, Th đã bán cho V1 01 gói với giá 50.000 đồng, nhưng chưa kịp trả tiền, khi mua được ma túy V1 sử dụng ngay trong nhà của Th, lúc đó Th nhìn thấy nhưng không có ý kiến gì, để mặc cho V1 sử dụng trái phép ma túy trong nhà của mình. Khi Th và V1 đang sử dụng Heroine ngay lập tức bị tổ công tác điều tra Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng phát hiện bắt quả tang.

V1 khai nhận: Chiều ngày 14/4/2024 V1 đến xóm B2, xã M Học để tìm mua gỗ về làm nhà. Khi đến xóm Bản Ràn, V1 vào nhà Th để hỏi mua gỗ thì thấy Th đang ngồi trên giường sử dụng ma túy bằng hình thức hít. V1 liền hỏi mua ma túy được Th đồng ý bán cho 01 gói Heroine được gói bằng giấy màu trắng với giá 50.000 đồng, khi nhận được ma túy V1 chưa trả tiền ngay, rồi nhặt một mảnh giấy bạc trên sàn nhà, lấy bật lửa trong túi ra để sử dụng Heroine. Khi đó Th nhìn thấy V1 sử dụng ma túy ngay trong nhà nhưng Th không ngăn cản. Khi đang sử dụng ma túy thì lực lượng Công an bắt quả tang V1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong nhà Th.

M khai nhận: Cuối năm 2014 Th bị mất giấy tờ tùy thân nên có nhờ tôi đứng tên mua xe máy và đăng ký xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE S, BKS: 97B1-388.62, mọi chi phí tiền mua xe và đăng ký xe do Th tự chi trả.

Ngày 05/7/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Bảo Lâm ra Quyết định tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu số: 348/QĐ-ĐTTH và tiến hành lập biên bản tạm giữ xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE S, BKS: 97B1-388.62.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Th thành khẩn khai báo về hành vi của bản thân, lời khai của bị cáo phù hợp với nhau lời khai của M, V1 và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Các vật chứng, tài sản đã tạm giữ đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng để đảm bảo việc xét xử và Thi hành án.

*Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Th theo tội danh, điều luật như Cáo trạng số: 34/CT-VKSBL ngày 22 tháng 7 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1, Điều 251; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt, bị cáo Th từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

- Áp dụng khoản 1, Điều 256; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Th từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội“Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”,

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội danh đối với bị cáo Th.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng các Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (Một) Phong bì thư, mặt trước ghi: “Vật chứng vụ Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy phát hiện ngày 14/4/2024 tại nhà của Th, ở xóm B1, xã Th1, huyện B2, tỉnh Cao Bằng, mặt sau có chữ ký của những người tham gia niêm phong, chữ ký của Th, V1 và đóng dấu giáp lai của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng;

+ 01 (Một) bật lửa màu đỏ của Th;

+ 02 (Hai) mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy dở;

+ 06 (Sáu) mảnh giấy có kích thước 3x3cm, mỗi mảnh một mặt màu trắng, mặt còn lại có nhiều màu sắc;

+ 01 (Một) bật lửa màu vàng của V1.

- Tịch thu phát mại nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 (Một) xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE S, màu sơn vàng đen, BKS: 97B1-388.62, số khung: RLHJC5261DY101761, số máy: JC52E11310559; dung tích xi lanh 109Cm3, xe đã qua sử dụng, (có chìa khóa kèm theo);

- Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền: 50.000 đồng, trong tổng số tiền 7.055.000 đồng hiện nay đang bị tạm giữ;

- Trả lại bị cáo Th:

+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, màn hình cảm ứng, số IMEI 1: 867251055538608, số IMEI 2: 867251055538616, đã qua sử dụng;

+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu FONROX, màu đen, điện thoại bàn phím bấm, số IMEI 1: 353934610773809, số IMEI 2: 353934610773817, đã qua sử dụng;

+ Trả lại bị cáo Th số tiền 6.920.000 đồng, trong tổng số tiền 7.055.000 đồng, đang bị tạm giữ, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án;

- Trả lại người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan V1 số tiền: 85.000 đồng, trong tổng số tiền 7.055.000 đồng, hiện nay đang bị tạm giữ.

- Về án phí: Bị cáo Th phải chịu án phí theo quy định.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan M có đơn xin xét xử vắng mặt, nội dung đơn có trình bày: Tôi không có quan hệ họ hàng gì với Th chỉ quen biết nhau. Về xe máy HONDA WEVE S, BKS: 97B1-388.62 khoảng cuối năm 2014, tôi giúp Th đứng tên đăng ký xe máy này. Khi đó Th có nói bị mất Giấy chứng minh thư và giấy tờ tùy thân, Th có nhờ tôi đứng tên đăng ký xe máy giúp và tôi nhất trí. Khi mua xe máy Th là người Th toán toàn bộ chi phí mua xe. Đối với xe máy trên tôi không có ý kiến gì; đề nghị, Hội đồng xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, tôi không có ý kiến gì thêm.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan V1 có đơn xin xét xử vắng mặt, nội dung đơn có trình bày: Mọi sự việc đã khai đầy đủ với cơ quan Công an và có trong hồ sơ vụ án. Đối với số tiền 135.000 đồng, hiện nay đang bị tạm giữ, trong đó có số tiền 50.000 đồng, dùng để mua ma túy với Th nhưng V1 chưa kịp trả, số tiền còn lại có nguồn gốc do V1 lao động mà có sử dụng để chi tiêu cá nhân, về trách nhiệm hình sự đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật và không có ý kiến gì thêm.

* Tại phần tranh luận bị cáo Th đã không có ý kiến tranh luận đối đáp đối với đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật và mức hình phạt, trong lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về và làm công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lâm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Hành vi phạm tội của bị cáo:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà bị cáo Th đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Cáo trạng truy tố, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ đó có đủ cơ sở để kết luận:

Sáng ngày 14/4/2024 Th điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA WEVE S, màu vàng đen, BKS: 97B1-388.62, đi từ nhà đến xóm L, thị trấn P, huyện B1, tỉnh Cao Bằng khu vực giáp ranh với huyện B3, tỉnh Hà Giang mua được một gói Heroine với số tiền 500.000 đồng, với người đàn ông không biết họ, tên, địa chỉ, sau khi mua được Heroine điều khiển xe máy đi về nhà. Khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày khi Th đang sử dụng Heroine có V1 đến hỏi mua ma túy, được Th đồng ý bán cho V1 01 gói với giá 50.000 đồng, nhưng V1 chưa kịp trả tiền. Sau khi mua được ma túy V1 sử dụng ngay tại chỗ, trong nhà của Th, nhưng Th không có ý kiến gì ngăn cản, để mặc cho V1 sử dụng ma túy ngay trong nhà ở của mình. Khi Th và V1 đang sử dụng Heroine lập tức bị bắt quả tang, vật chứng thu giữ được 0,19 gam Heroine. Tại kết luận số: 249/KL-KTHS, ngày 24/4/2024 của Phòng kỹ thuật Hình sự công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong một phong bì thu niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine.

Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang, bức xúc trong quần chúng nhân dân, bị xã hội lên án và pháp luật nghiêm cấm, là một trong những nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác.

Như vậy hành vi nêu trên của bị cáo Th có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1, Điều 251 của Bộ luật hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1, Điều 256 của Bộ luật hình sự.

“Điều 251: Tội mua bán trái phép chất ma túy:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị xử phạt từ 02 năm đến 07 năm tù.

…”.

“Điều 256: Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy:

1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

…”.

Bản Cáo trạng số: 34/CT-VKSBL, ngày 22/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng truy tố đối với bị cáo Th về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” là có căn cứ, đúng người đúng tội.

. Nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Th từ nhỏ sống cùng gia đình, được bố mẹ nuôi dưỡng, cho đi học, nhưng bị cáo chỉ học đến lớp 02/10 thì bỏ học ở nhà, lớn lên lập gia đình làm ăn, sinh sống tại xóm B1, xã Th1, huyện B2, tỉnh Cao Bằng, bị cáo sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt. Quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo không chịu khó lao động, tu chí rèn luyện để có thu nhập cho bản thân và gia đình, thường xuyên có nhiều mối quan hệ qua lại với các đối tượng nghiện ma túy trên địa bàn nên đã nghiện ma túy, loại ma tuý thường sử dụng là Heroine. Ngày 21/11/2012, bị cáo Th bị Tòa án nhân dân huyện B3, tỉnh Hà Giang xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số: 06/2012/HSST, ngày 20/4/2014 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương.

Bị cáo Th nhận thức được rõ tác hại của các chất ma túy đối với sức khỏe con người, có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi mua bán trái phép chất ma túy và hiểu và biết rõ hành vi bỏ mặc không ngăn cản, để người khác sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi ở của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý không khuyên ngăn. Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời nhằm tuyên truyền giáo dục cho mọi công dân về tác hại của các chất ma túy.

- Tình tiết tăng nặng: Không có.

- Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội thành khẩn khai báo (điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự).

Trong vụ án này:

Đối với người đàn ông bán Heroine cho Th tại xóm L, thị trấn P do Th không biết họ, tên, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không đủ điều kiện để xác minh làm rõ. Khi có đủ căn cứ sẽ xử lý bằng vụ án khác.

Đối tượng V1 qua điều tra xác định được V1 chỉ là người sử dụng trái phép chất ma túy khi mua ma túy với Th không cân nên không xác định được khối lượng, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy không cấu thành tội phạm, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với V1 là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Th không có thu nhập ổn định, bị cáo là người nghiện ma túy mục đích mua Heroine để sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu của bản thân. Hội đồng xét xử xét thấy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.

. Hướng xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Với 01(Một) Phong bì thư, mặt trước ghi: “Vật chứng vụ Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy phát hiện ngày 14/4/2024 tại nhà của Th, ở xóm B1, xã Th1, huyện B2, tỉnh Cao Bằng, mặt sau có chữ ký của những người tham gia niêm phong, chữ ký của Th, V1 và đóng dấu giáp lai của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng. Là vật chứng của vụ án, cần tịch thu tiêu hủy theo luật định.

- 01 (Một) bật lửa màu đỏ của Th; 02 (Hai) mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy dở; 06 (Sáu) mảnh giấy có kích thước 3x3cm, mỗi mảnh một mặt màu trắng, mặt còn lại có nhiều màu sắc; 01 (Một) bật lửa màu vàng của V1. Các vật chứng trên do bị cáo Th và V1 sử dụng để sử dụng Heroine, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (Một) xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE S, màu sơn vàng đen, BKS: 97B1-388.62, số khung: RLHJC5261DY101761, số máy: JC52E11310559; dung tích xi lanh 109Cm3, xe đã qua sử dụng, (có chìa khóa kèm theo). Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được xe máy là tài sản của bị cáo Th mua năm 2014 với số tiền 19.700.000 đồng, tại thị trấn P1, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Tại thời điểm mua xe máy Th không có giấy tờ tùy thân nên đã nhờ bà M, sinh năm 1976, trú tại: thôn B2, xã C1, huyện P, tỉnh Bắc Kạn đứng tên đăng ký xe cho Th. Những lần Th đi mua ma túy đều sử dụng xe máy này làm phượng tiện đi mua Heroine, xe máy trên liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Cần tịch thu phát mại để nộp vào ngân sách Nhà nước.

- Với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, màn hình cảm ứng, số IMEI 1: 867251055538608, số IMEI 2: 867251055538616, đã qua sử dụng; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu FONROX, màu đen, điện thoại bàn phím bấm, số IMEI 1: 353934610773809, số IMEI 2: 353934610773817, đã qua sử dụng. Hai điện thoại trên là của Th do bị cáo lao động kiếm tiền mua được, sử dụng để liên lạc với người thân, gia đình. Th không sử dụng hai điện thoại trên để liên lạc trao đổi mua bán ma túy, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, cần hoàn trả lại bị cáo Th 02 điện thoại trên.

- Số tiền 7.055.000 đồng, đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng nộp vào tài khoản số 3949.1036410.00000 của Kho bạc Nhà nước ở Ngân hàng Agribank, chi nhánh huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng, trong đó có: số tiền 135.000 đồng, tiền của V1 do lao động mà có, và có số tiền 50.000 đồng, là tiền V1 mua Heroine với Th nhưng chưa kịp trả tiền; còn lại số tiền 6.920.000 đồng, của Th, có nguồn gốc do Th lao động mà có, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo; do đó, cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 50.000 đồng; hoàn trả lại V1 số tiền 85.000 đồng, hoàn trả lại cho bị cáo Th số tiền 6.920.000 đồng, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

. Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016. Bị cáo Th phải chịu số tiền 200.000 đồng, (bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm để nộp vào Ngân sách Nhà Nước.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định liên quan đến quyền lợi của mình theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

. Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt, hướng xử lý vật chứng và án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Lời nói sau cùng của các bị cáo đã được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyến bố, bị cáo Th phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy".

2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng khoản 1, Điều 251; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Th 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng khoản 1, Điều 256; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Th 02 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Th phải chấp hành tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 04 năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/4/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

-Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (Một) Phong bì thư, mặt trước ghi: “Vật chứng vụ Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” phát hiện ngày 14/4/2024 tại nhà của Th, ở xóm B1, xã Th1, huyện B2, tỉnh Cao Bằng, mặt sau có chữ ký của những người tham gia niêm phong, chữ ký của Th, V1 va đóng dấu giáp lai của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng.

+ 01 (Một) bật lửa màu đỏ của Th;

+ 02 (Hai) mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy dở;

+ 06 (Sáu) mảnh giấy có kích thước 3x3cm, mỗi mảnh một mặt màu trắng, mặt còn lại có nhiều màu sắc;

+ 01 (Một) bật lửa màu vàng của V1.

- Tịch thu phát mại nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 (Một) xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE S, màu sơn vàng đen, BKS: 97B1-388.62, số khung: RLHJC5261DY101761, số máy: JC52E11310559; dung tích xi lanh 109Cm3, xe đã qua sử dụng, (có chìa khóa kèm theo).

- Trả lại bị cáo Th 02 (Hai) điện thoại di động: Trong đó, 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu VIVO, màu xanh, màn hình cảm ứng, số IMEI 1: 867251055538608, số IMEI 2: 867251055538616, đã qua sử dụng; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu FONROX, màu đen, điện thoại bàn phím bấm, số IMEI 1: 353934610773809, số IMEI 2: 353934610773817, đã qua sử dụng.

+ Trả lại cho bị cáo Th số tiền 6.920.000 đồng, trong tổng số tiền 7.055.000 đồng, được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng nộp vào tài khoản số 3949.1036410.00000 của Kho bạc Nhà nước ở Ngân hàng Agribank Chi nhánh huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc Thi hành án.

+ Trả lại người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan V1 số tiền: 85.000 đồng, trong tổng số tiền 7.055.000 đồng, đang được tạm giữ.

- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền: 50.000 đồng, trong tổng số tiền 7.055.000 đồng, đang được tạm giữ.

(Xác nhận, các vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng và được ghi chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 46 ngày 22/7/2024).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo Th phải chịu số tiền 200.000 đồng, (bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm để nộp vào Ngân sách Nhà Nước.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo (Có mặt) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về phần có liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết công khai bản án theo luật định.

Cỡ chữ