- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn G - Lê Thị H (Ly hôn)"
- Tòa quyết gì? Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 74/2023/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 205 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2024/HNGĐ Ngày: 23/4/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thanh Thuỷ
2. Bà Nguyễn Thị Thưởng
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Tú - Thư ký TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Đại diện VKSND TP.Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu Lan - Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 74/2023/ TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo “Quyết định đưa vụ án ra xét xử” số 69/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024; “Quyết định hoãn phiên toà” số 54/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 và “Thông báo thay thế thành viên những người tiến hành tố tụng” số 16/2024/TB-TA ngày 12/4/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1990 (Có mặt)
ĐKTT: TT, phường ĐT, thành phố TH, tỉnh TH
Nơi ở hiện tại: Nhà liền kề … MBQH …, phường ĐT, thành phố TH, tỉnh TH
- Bị đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1989 (Vắng mặt)
ĐKTT: TT, phường ĐT, thành phố TH, tỉnh TH
Nơi ở hiện tại: Nhà liền kề … MBQH …, phường ĐT, thành phố TH, tỉnh TH
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Văn G trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Lê Thị H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa ngày 22/10/2012. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống. Chị H thường chửi bới lăng mạ anh. Mâu thuẫn ngày càng gay gắt nên vợ chồng sống ly thân từ tháng 8/2022 đến nay việc ai người đó làm, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau.
Nay anh xác định vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy anh đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa giải quyết cho anh ly hôn chị Lê Thị H.
Về con chung: Anh G và chị H có 01 con chung là Nguyễn Văn Đại L, sinh ngày 14/10/2013. Từ khi vợ chồng ly thân con ở với chị H. Nay ly hôn anh đề nghị giao cho chị H trực tiếp nuôi con, anh cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H 2.000.000đ/tháng; Về tài sản chung và nợ chung: Anh G không yêu cầu Toà án giải quyết
Về phía bị đơn Lê Thị Hạnh: Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và phiên hòa giải chị H khai thống nhất với lời khai của anh G về thời gian, điều kiện kết hôn; Về thực trạng mâu thuẫn vợ chồng. Về nguyên nhân mâu thuẫn theo chị là do anh G không chung thủy, có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi và nhiều lần đánh nhau. Mâu thuẫn gay gắt nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2022 đến nay, chấm dứt quan hệ về tình cảm và kinh tế. Bản thân chị cũng thấy rằng vợ chồng không ai bỏ được cái tôi của mình để hòa hợp. Song chị không đồng ý ly hôn vì chị vẫn còn tình cảm với anh G và muốn con có gia đình đầy đủ bố mẹ; Về con chung: Chị thống nhất có một con chung như anh G trình bày, nếu phải ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi con một lần là 500.000.000đ; Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 19/01/2024 cháu Nguyễn Văn Đại L có nguyện vọng xin được ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn.
Ngày 15/01/2024 Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương (phường ĐT, thành phố TH) kết quả xác định: Sau khi kết hôn, anh G chị H chung sống tại phường ĐT, thành phố TH; Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn, từ năm 2022 anh chị sống ly thân; Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Văn Đại L, sinh ngày 14/10/2013 cháu hiện đang sống cùng với mẹ; Về tài sản chung nợ chung của anh chị địa phương không rõ; Việc anh chị ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải ngày 18/01/2024 anh G chị H thống nhất về tài liệu chứng cứ đã công khai; Anh G kiên quyết xin ly hôn, chị H không đồng ý ly hôn; Trường hợp phải ly hôn chị H xin nuôi con và yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con một lần là 500.000.000đ; Anh G không đồng ý cấp dưỡng 1 lần vì không đủ điều kiện, anh xin cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000đ. Tại phiên hoà giải ngày 19/3/2024 anh G có mặt, chị H không có mặt nên Toà án không tiến hành hoà giải được.
Ngày 22/3/2024, Tòa án nhân dân TP. Thanh Hóa có “Quyết định đưa vụ án ra xét xử”, quyết định đã được tống đạt hợp lệ cho anh G, chị H. Tại phiên tòa ngày 05/4/2024 anh G có mặt, chị H vắng mặt lần thứ nhất, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy HĐXX quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào 13 giờ 30 phút ngày 23/4/2024. Quyết định hoãn phiên toà đã được tống đạt hợp lệ cho anh G, chị H.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Nguyễn Thị H vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Anh Nguyễn Văn G giữ nguyên quan điểm đề nghị HĐXX giải quyết cho anh ly hôn chị H; Về con chung anh đề nghị giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh cấp dưỡng nuôi con cùng chị H 3.000.000đ/tháng; Về tài sản chung và nợ chung anh G không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện VKS: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và HĐXX và anh Giang kể từ khi toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã tuân thủ đúng quy định; Việc chấp hành pháp luật của chị Hạnh chưa đầy đủ quy định. Tại phiên tòa hôm nay, chị Hạnh vắng mặt lần thứ hai không có lý do, anh Giang đề nghị xét xử vụ án theo quy định của pháp luật. Đại diện VKS đề nghị HĐXX căn cứ Điều 227-BLTTDS xét xử vắng mặt chị Hạnh; Về nội dung, đại diện VKS đề nghị HĐXX: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh G; Giao con chung của anh G chị H cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh G cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H 3.000.000đ/tháng kể từ khi ly hôn đến khi con thành niên; Án phí: Anh G phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được kiểm tra, xem xét tại phiên toà; Kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Ý kiến của người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn G khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn; Nơi cư trú của bị đơn tại thành phố Thanh Hóa, do đó Tòa án nhân dân TP.Thanh Hóa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1Điều 39 - Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay chị H vắng mặt lần thứ hai không có lý do HĐXX căn cứ Điều 227 - BLTTDS để xét xử vắng mặt chị H.
[2] Về nội dung:
Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn G và chị Lê Thị H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa ngày 22/10/2012, như vậy là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nên đã sống ly thân từ tháng 8/2022 đến nay, chấm dứt quan hệ về tình cảm và kinh tế. Nay anh G xác định mâu thuẫn giữa anh và chị H trầm trọng không thể khắc phục được; Cuộc sống chung không hạnh phúc; Mục đích hôn nhân không đạt được nên anh kiên quyết ly hôn chị H. Về phía chị H, cũng xác định vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, thường xuyên cãi chửi thậm chí đánh nhau; Chị và anh G đều không thể bỏ được cái tôi của mình để hòa hợp; Bản thân chị cũng không có biện pháp nào khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ. Song chị vẫn còn tình cảm với anh G và muốn con có gia đình đầy đủ bố mẹ nên chị không đồng ý ly hôn.
HĐXX xét, mong muốn đoàn tụ gia đình của chị H là chính đáng. Song mâu thuẫn giữa chị H và anh G đã thực sự trầm trọng. Vợ chồng đã sống ly thân, bỏ mặc nhau từ tháng 8/2022 đến nay mà không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn để đoàn tụ; Bản thân chị H cũng xác định vợ chồng không ai bỏ được cái tôi của mình để hòa hợp; Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần hoà giải anh G vẫn kiên quyết ly hôn. Yêu cầu ly hôn của anh G là có cơ sở và hoàn toàn tự nguyện, HĐXX căn cứ quy định tại khoản 1 điều 56 - Luật HN&GĐ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh G.
Về con chung: Anh Nguyễn Văn G và chị Lê Thị H có 01 con chung là Nguyễn Văn Đại L, sinh ngày 14/10/2013. Từ khi vợ chồng sống ly thân con ở với chị H. Nay ly hôn anh G đề nghị giao con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng; Bản thân chị H cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con: Cháu L cũng có nguyện vọng được ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn.
Xét việc giao con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh G cấp dưỡng nuôi con là đảm bảo tốt nhất quyền lợi của con, tránh được những xáo trộn không cần thiết cho con, phù hợp với quan điểm, nguyện vọng của anh chị và con, phù hợp quy định tại Điều 81, 82 Luật HN&GĐ nên HĐXX chấp nhận.
Về phần cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị H yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con một lần là 500.000.000đ, anh G không đồng ý vì không đủ điều kiện để cấp dưỡng một lần như yêu cầu của chị H. Yêu cầu trên của chị H là không có căn cứ do đó HĐXX không chấp nhận. Việc anh G tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000đ là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 Luật HN&GĐ nên HĐXX chấp nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh G, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xét.
[3] Về án phí: Anh Nguyễn Văn G là nguyên đơn và có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định tại Điều 6; Điểm a khoản 5, 6 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/ UBTVQH14 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình
Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn G
Về hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn G ly hôn chị Lê Thị H
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Đại L, sinh ngày 14/10/2013 là con chung của anh G chị H, cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng; Anh Nguyễn Văn G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H 3.000.000đ (Ba triệu đồng) một tháng kể từ ngày 23/4/2024 đến khi con đủ 18 tuổi.
Anh Nguyễn Văn G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không có yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xét.
Về án phí: Anh Nguyễn Văn G phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2022/0002933 ngày 16/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa. Anh Giang còn phải nộp 300.000đ án phí.
Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn G có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Chị Lê Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hịên theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Thanh Hoá;
- VKSND TP. Thanh Hóa;
Đã ký
- Chi cục THADS TP. Thanh Hóa;
- UBND phường Đông Thọ, TPTH;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị Nga
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ THANH HÓA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH THANH HÓA
TP. Thanh Hóa, ngày 23 tháng 4 năm 2024
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi giờ phút, ngày 23 tháng 4 năm 2024
Tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa,tỉnh Thanh Hóa
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thanh Thuỷ
2. Bà Nguyễn Thị Thưởng
Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ thụ lý số 74/2023/ TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” giữa:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Giang, sinh năm 1990
ĐKTT: 13/118 Thành Thái, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Bị đơn: Chị Lê Thị Hạnh, sinh năm 1989
ĐKTT: 13/118 Thành Thái, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU
Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình
Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn Giang
Về hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn Giang ly hôn chị Lê Thị Hạnh
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Đại Lộc, sinh ngày 14/10/2013 là con chung của anh Giang chị Hạnh, cho chị Lê Thị Hạnh trực tiếp nuôi dưỡng; Anh Nguyễn Văn Giang có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Hạnh 3.000.000đ (Ba triệu đồng) một tháng kể từ ngày 23/4/2023 đến khi con đủ 18 tuổi.
Anh Nguyễn Văn Giang có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không có yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xét.
Về án phí: Anh Nguyễn Văn Giang phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2022/0002933 ngày 16/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa. Anh Giang còn phải nộp 300.000đ án phí.
Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn Giang có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Chị Lê Thị Hạnh có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hịên theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự
Kết quả biểu quyết: Nhất trí: 3/3
Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút, ngày 23 tháng 4 năm 2024.
Biên bản nghị án đã đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Thị Thưởng
Nguyễn Thị Thanh Thuỷ
Nguyễn Thị Nga TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ THANH HÓA
Độc lập - Tự do -Hạnh phúc
TỈNH THANH HÓA
TP. Thanh Hóa, ngày 22 tháng 4 năm 2024
BÁO CÁO ÁN
Thẩm phán Nguyễn Thị Nga
Báo cáo vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Giang
- Bị đơn: Chị Lê Thị Hạnh
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Văn Giang trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Lê Thị Hạnh tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa ngày 22/10/2012. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống. Chị Hạnh thường chửi bới lăng mạ anh. Mâu thuẫn ngày càng gay gắt nên vợ chồng sống ly thân từ tháng 8/2022 đến nay việc ai người đó làm, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau.
Nay anh xác định vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy anh đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa giải quyết cho anh ly hôn chị Lê Thị Hạnh.
Về con chung: Anh Giang và chị Hạnh có 01 con chung là Nguyễn Văn Đại Lộc, sinh ngày 14/10/2013. Từ khi vợ chồng ly thân con ở với chị Hạnh. Nay ly hôn anh đề nghị chị Hạnh trực tiếp nuôi con, anh cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Hạnh 2.000.000đ/tháng;
Về tài sản chung và nợ chung: Anh Giang không yêu cầu Toà án giải quyết
Về phía bị đơn Lê Thị Hạnh: Tại bản tự khai, biên bản láy lời khai và phiên hòa giải chị Hạnh khai thống nhất với lời khai của anh Giang về thời gian, điều kiện kết hôn; Về thực trạng mâu thuẫn vợ chồng. Về nguyên nhân mâu thuẫn theo chị là do anh Giang không chung thủy, có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi và nhiều lần đánh nhau. Mâu thuẫn gay gắt nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2022 đến nay, chấm dứt quan hệ về tình cảm và kinh tế. Bản thân chị cũng thấy rằng vợ chồng không ai bỏ được cái tôi của mình để hòa hợp. Song chị không đồng ý ly hôn vì chị vẫn còn tình cảm với anh Giang và muốn con có gia đình đầy đủ bố mẹ; Về con chung: Chị thống nhất có một con chung như anh Giang trình bày, nếu phải ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu anh Giang phải cấp dưỡng nuôi con một lần là 500.000.000đ; Về tài sản chung và nợ chung: Chị Hạnh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 19/01/2024 cháu Nguyễn Văn Đại Lộc có nguyện vọng xin được ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn.
Ngày 15/01/2023 Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương (phường Đông Thọ, TP.Thanh Hóa) kết quả xác định: Sau khi kết hôn, anh Giang chị Hạnh chung sống tại phường Đông Thọ, TP.Thanh Hóa; Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn, từ năm 2022 anh chị sống ly thân; Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Văn Đại Lộc, sinh ngày 14/10/2013 cháu hiện đang sống cùng với mẹ; Về tài sản chung nợ chung của anh chị địa phương không rõ; Việc anh chị ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên hoà giải ngày 18/01/2024 anh Giang giữ nguyên quan điểm xin ly hôn, chị Hạnh không đồng ý ly hôn, nếu phải ly hôn chị Hạnh yêu cầu anh Giang cấp dưỡng nuôi con một lần là 500.000.000đ, anh Giang đề nghị cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000đ. Tại phiên hoà giải ngày 19/3/2024 anh Giang có mặt, chị Hạnh không có mặt nên Toà án không tiến hành hoà giải được
* Quan điểm và đề nghị
Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình
Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội
Xử: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn Giang
Về hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn Giang ly hôn chị Lê Thị Hạnh
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Đại Lộc, sinh ngày 14/10/2013 cho chị Hạnh trực tiếp nuôi dưỡng; Anh Giang có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Hạnh 3.000.000đ một tháng kể từ ngày 23/4/2023 đến khi con đủ 18 tuổi.
Anh Nguyễn Văn Giang có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xét
Về án phí: Anh Nguyễn Văn Giang phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ
Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn Giang có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Chị Lê Thị Hạnh có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Ý kiến lãnh đạo
Người báo cáo TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ THANH HÓA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH THANH HOÁ Số: 54/2024/QĐST- HNGĐ
TP. Thanh Hóa, ngày 05 tháng 4 năm 2024
QUYẾT ĐỊNH
HOÃN PHIÊN TÒA
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ- TỈNH THANH HÓA
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Ngọc Dũng
2. Bà Hoàng Thị Hạnh
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Tú - Thư ký TAND TP. Thanh Hóa
Đại diện VKSND thành phố tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu Lan - Kiểm sát viên
Đã tiến hành mở phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án dân sự thụ lý số 74/2023/TLST
- HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” giữa:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Giang, sinh năm 1990
ĐKTT: 13/118 Thành Thái, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Nơi ở hiện tại: Nhà liền kề 17-06 MBQH 3037, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Bị đơn: Chị Lê Thị Hạnh, sinh năm 1989
ĐKTT: 13/118 Thành Thái, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Nơi ở hiện tại: Nhà liền kề 17-06 MBQH 3037, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/QĐXXST- HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024
Xét thấy: Bị đơn Lê Thị Hạnh vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Căn cứ vào khoản 1 điều 227 và Điều 233, 235 của Bộ luật tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 74/2023/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023
Thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa xét xử vụ án như sau:
- Thời gian mở phiên toà: Hồi 13 giờ 30 phút, ngày 23 tháng 4 năm 2024
- Địa điểm: Phòng xử án dân sự, tầng một trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá (Đường Hạc Thành, phường Ba Đình, thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá) Nơi nhận:
T/ M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSNDTPTH;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị Nga TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ THANH HÓA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH THANH HÓA
TP. Thanh Hóa, ngày 05 tháng 4 năm 2024
BIÊN BẢN THẢO LUẬN
Vào hồi giờ phút, ngày 05 tháng 4 năm 2024
Tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa,tỉnh Thanh Hóa
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Dũng
2. Bà Hoàng Thị Hạnh
Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 74/2023/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” giữa:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Giang, sinh năm 1990
ĐKTT: 13/118 Thành Thái, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Nơi ở hiện tại: Nhà liền kề 17-06 MBQH 3037, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Bị đơn: Chị Lê Thị Hạnh, sinh năm 1989
ĐKTT: 13/118 Thành Thái, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Nơi ở hiện tại: Nhà liền kề 17-06 MBQH 3037, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
Xét thấy: Bị đơn Lê Thị Hạnh vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU
Căn cứ vào khoản 1 Điều 227; Điều 233, 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Quyết định:
1. Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 74/2023/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023
2. Thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa xét xử vụ án như sau:
- Thời gian mở phiên toà: Hồi 13 giờ 30 phút, ngày 23 tháng 4 năm 2024
- Địa điểm: Phòng xử án dân sự, tầng một trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá (Đường Hạc Thành, phường Ba Đình, thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá)
Kết quả biểu quyết: Nhất trí 3/3
Nghị án kết thúc vào hồi giờ
phút, ngày 05 tháng 4 năm 2024.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hạnh
Nguyễn Ngọc Dũng
Nguyễn Thị Nga
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ THANH HÓA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH THANH HÓA
BIÊN BẢN
PHIÊN TÒA SƠ THẨM
Vào hồi 07 giờ 40 phút, ngày 05 tháng 4 năm 2024
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 74/2023/ TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”.
Vụ án được xét xử công khai
I. Những người tham gia tố tụng:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Giang, sinh năm 1990
ĐKTT: 13/118 Thành Thái, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Nơi ở hiện tại: Nhà liền kề 17-06 MBQH 3037, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Bị đơn: Chị Lê Thị Hạnh, sinh năm 1989
ĐKTT: 13/118 Thành Thái, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Nơi ở hiện tại: Nhà liền kề 17-06 MBQH 3037, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa II. Những người tiến hành tố tụng:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Dũng
2. Bà Hoàng Thị Hạnh
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Tú - Thư ký TAND TP. Thanh Hóa
Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu Lan - Kiểm sát viên
III. Phần thủ tục bắt đầu phiên tòa:
- Chủ tọa phiên tòa tuyên bố khai mạc phiên tòa và đọc “Quyết định đưa vụ án ra xét xử” số 69 ngày 22/3/2024
- Thư ký phiên tòa báo cáo với Hội đồng xét xử về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và lý do vắng mặt.
(Tại phiên tòa vắng mặt chị Lê Thị Hạnh, không có lý do)
- Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và kiểm tra căn cước của đương sự.
- Chủ tọa phiên tòa giới thiệu họ, tên những người tiến hành tố tụng.
- Chủ tọa phiên tòa hỏi những người có quyền yêu cầu thay đổi những người tiến hành tố tụng xem có đề nghị thay đổi thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Thư ký phiên tòa hay không.
(Không có yêu cầu thay đổi những người tiến hành tố tụng).
Ý kiến KSV: Đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa vì chị Lê Thị Hạnh vắng mặt lần thứ nhất, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Hội đồng xét xử thảo luận tại phòng nghị án.
Hội đồng xét xử vào phòng xử án và công bố “Quyết định hoãn phiên tòa” đã được HĐXX thông qua tại phòng nghị án.
Những sửa đổi bổ sung theo yêu cầu của kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng (Không có yêu cầu sửa đổi bổ sung).
Phiên tòa kết thúc vào hồi 08 giờ 00 phút, ngày 05 tháng 4 năm 2024.
THƯ KÝ PHIÊN TÒA
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ THANH HÓA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH THANH HOÁ
BIÊN BẢN VỀ VIỆC
KHÔNG TIẾN HÀNH HOÀ GIẢI ĐƯỢC
Hồi 08 giờ 20 phút, ngày 19 tháng 3 năm 2024
Ơ
Tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa .
Gồm có:
- Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nga
- Thư ký Tòa án ghi biên bản họp: Ông Trần Đình Tú
- Anh Nguyễn Văn Giang, sinh năm 1990 (Nguyên đơn)
ĐKTT: 13/118 Thành Thái, P. Đông Thọ, TP.Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Nơi ở hiện tại: Nhà liền kề 17-06 MBQH 3037, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Tiến hành lập biên bản về việc không tiến hành hoà giải được đối với vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 74/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023, do vắng mặt bị đơn.
NỘI DUNG
Ngày 14 tháng 3 năm 2024 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa đã có “Thông báo về phiên hòa giải”số 126/TB-TA, nội dung: Thông báo cho anh Nguyễn Văn Giang và chị Lê Thị Hạnh đúng 08 giờ 00 phút, ngày 19 tháng 3 năm 2024 có mặt tại Phòng 27, tầng 3 trụ sở Toà án nhân dân TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá (Địa chỉ: Đường Hạc Thành, phường Ba Đình, TP Thanh Hóa) để tham gia phiên hòa giải về quan hệ hôn nhân, con chung và cấp dưỡng nuôi con. Thông báo đã được tống đạt hợp lệ cho anh Giang và chị Hạnh.
Đến thời điểm 08 giờ 20 phút, ngày 19/3/2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, anh Nguyễn Văn Giang có mặt, chị Lê Thị Hạnh vắng mặt. Do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được.
* Ý kiến anh Giang:
Tôi giữ nguyên yêu cầu ly hôn vối cô Lê Thị Hạnh. Mâu thuẫn vợ chồng chúng tôi đã được gia đình hoà giải nhiều lần. Bản thân vợ chồng cũng đã cố gắng để khắc phục mâu thuẫn song không có kết quả. Đến nay tôi xác định vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng kéo dài; Mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa giải quyết cho tôi ly hôn cô Lê Thị Hạnh.
- Về con chung: Vợ chồng tôi có một con chung là Nguyễn Văn Đại Lộc, sinh ngày 14/10/2023. Nay ly hôn tôi đồng ý để cho cô Lê Thị Hạnh được trực tiếp nuôi con, tôi cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng kể từ khi ly hôn đến khi con đủ 18 tuổi. Tôi không đồng ý cấp dưỡng 1 lần 500.000.000đ như cô Hạnh yêu cầu vì tôi không có điều kiện cấp dưỡng 1 lần số tiền trên
- Về tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tôi đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nữa vì cô Hạnh không hợp tác giải quyết vụ án, cố tình gây khó khăn cho tôi. Bản thân tôi kiên quyết ly hôn, nên việc hoà giải không cần thiết.
Do vậy Tòa án nhân dân TP. Thanh Hóa lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Biên bản lập xong hồi 08 giờ 40 phút cùng ngày, những người tham gia đã đọc lại, công nhận đúng và ký tên dưới đây.
Đương sự
Thư ký
Thẩm phán TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ THANH HÓA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH THANH HOÁ
Số: 126/TB - TA
TP. Thanh Hóa, ngày 14 tháng 3 năm 2024
THÔNG BÁO
VỀ PHIÊN HÒA GIẢI
Kính gửi:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Giang, sinh năm 1990
ĐKTT: 13/118 Thành Thái, P. Đông Thọ, TP.Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Nơi ở hiện tại: Nhà liền kề 17-06 MBQH 3037, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Bị đơn: Chị Lê Thị Hạnh, sinh năm 1989
ĐKTT: 13/118 Thành Thái, P. Đông Thọ, TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Nơi ở hiện tại: Nhà liền kề 17-06 MBQH 3037, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Là : Đương sự trong vụ án Ly hôn
Căn cứ vào các điều 205, 206, 207, 208 và 209 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 74/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023;
Xét thấy: Vụ án không thuộc trường hợp không được hoà giải hoặc không tiến hành hoà giải được.
Vì các lẽ trên:
1. Thông báo cho các đương sự có tên nêu trên được biết
Đúng 08 giờ 00 phút, ngày 19 tháng 3 năm 2024
Có mặt tại phòng 27 tầng 3 Toà án nhân dân TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá
(Địa chỉ: Đường Hạc Thành, phường Ba Đình, TP Thanh Hóa)
Để tham gia phiên hoà giải.
2. Nội dung phiên hoà giải: Hoà giải về quan hệ hôn nhân, con chung, cấp dưỡng nuôi con.
3. Nếu người được thông báo không có mặt đúng thời gian, địa điểm ghi trong thông báo này để tham gia phiên họp, Toà án sẽ tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Như trên; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Nga |