vanban.org

Bản án 33/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị M đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Văn T (theo giấy chứng nhận kết hôn do UBND xã Q cấp ngày 08/02/1991)

Về con chung: Các con đã trƣởng thành không yêu cầu tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đƣơng sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Phạm Thị M yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn Th"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị M đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Văn T (theo giấy chứng nhận kết hôn do UBND xã Q cấp ngày 08/02/1991)
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST
Ngày 29-02-2024
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Từ Anh Tuấn;

2. Bà Hoàng Lệ Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vƣơng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 488/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/QĐST-DS ngày 19 tháng 02 năm 2024, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1972; thƣờng trú: Số A đƣờng N, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1968; thƣờng trú: Số A đƣờng N, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 11 năm 2023 và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Phạm Thị M trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn T có tìm hiểu nhau một thời gian thì tự nguyện chung sống, hai bên có tổ chức đám cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo giấy chứng nhận kết hôn do UBND xã Q cấp ngày 08/02/1991. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện.

Sau khi kết hôn vợ chồng bà sinh sống tại xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; hiện sinh sống tại phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thƣờng xuyên cãi nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Hai vợ chồng bà đã nhiều lần cố gắng hàn gắn tình cảm để xây dựng hạnh phúc gia đình nhƣng không có kết quả. Vì vậy, hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu đƣợc ly hôn với ông T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị H, sinh ngày 19/5/1994 và Nguyễn Văn H1, sinh ngày 02/10/1999. Các con đã trƣởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung về tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại Biên bản xác minh ngày 11/01/2024 Hội Liên hiệp phụ nữ phường T cung cấp thông tin như sau: Hội liên hiệp phụ nữ phƣờng không nhận đƣợc đơn đề nghị hòa giải hôn nhân giữa bà Phạm Thị M với ông Nguyễn Văn T, đồng thời Hội cũng không tiếp nhận phản ánh từ cơ sở về mâu thuẫn giữa hai ông, bà do đó không biết rõ mâu thuẫn giữa vợ chồng ông T, bà M.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán đƣợc phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã đƣợc thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự, tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Sự chấp hành pháp luật của đƣơng sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các quy định pháp luật liên quan, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn đã đƣợc triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhƣng vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 để xét xử vắng mặt các đƣơng sự.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Phạm Thị M có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Văn T đã đƣợc tòa án triệu tập tham gia phiên tòa vào các ngày 19/02/2024 và ngày 29/02/2024 nhƣng vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bà M, ông T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Văn T là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn do UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 08/02/1991, nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt đƣợc mục đích đó vợ chồng phải chung thủy, thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt.

Theo lời trình bày của nguyên đơn nhận thấy quá trình chung sống giữa bà M, ông T phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thƣờng xuyên cãi nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Tòa án đã triệu tập ông T lên tham gia hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng ông T bỏ mặc, không quan tâm đến việc hàn gắn tình cảm, điều đó cho thấy tình cảm vợ chồng của bà M, ông T đã thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà M là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Vợ chồng ông, bà có 02 con chung tên Nguyễn Thị H, sinh ngày 19/5/1994 và Nguyễn Văn H1, sinh ngày 02/10/1999. Các con đã trƣởng thành, đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Từ những phân tích trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị M phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội hóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị M đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Văn T (theo giấy chứng nhận kết hôn do UBND xã Q cấp ngày 08/02/1991)

2. Về con chung: Các con đã trƣởng thành không yêu cầu tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đƣơng sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị M phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001405 ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định pháp luật/.

Cỡ chữ