- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử …
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƢƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 33/2024/HNGĐ-ST Ngày 28 tháng 5 năm 2024 V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH NA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Trường Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Ngân
Ông Phan Đình Trung
Thư ký phiên toà : Ông Nguyễn Xuân Tráng - Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh NA.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh NA tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Soa - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương xét xử công khai vụ án thụ lý số 34/ 2024/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 2 năm 2024 về việc Tranh chấp Hôn nhân gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 17 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1994; Nơi ĐKNKTT: Xóm 4, xã TT, huyện TC, tỉnh NA. Có mặt tại phiên toà.
Bị đơn: Anh Đậu Đình T, sinh năm 1988; Nơi ĐKNKTT: xóm 4, xã TT, huyện TC, tỉnh NA. Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, trong bản tự khai và tại phiên toà hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thị V trình bày:
Chị và anh Đậu Đình T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã TT, huyện TC, tỉnh NA vào ngày 23 tháng 12 năm 2014.
Sau khi kết hôn xong vợ chồng về làm ăn, sinh sống tại xã TT, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc cho đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn.
Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng là không còn nữa nên nguyện vọng của chị Nguyễn Thị V là muốn được ly hôn với anh Đậu Đình T.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đậu Đình Q, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2015. Hiện nay đang sống cùng với anh Đậu Đình T.
Nay vợ chồng ly hộn nhau nguyện vọng của chị là muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đậu Đình Q và không yêu cầu anh Đậu Đình T góp cấp dưỡng nuôi con cho chị.
Về phân chia tài sản: Chị không yêu cầu giải quyết.
Về nợ: Hiện nay vợ chồng không nợ gì ai và cũng không ai nợ gì vợ chồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được triệu tập Hợp lệ nhiều lần nhưng anh Đậu Đình T vẫn cố tình vắng mặt. Nhưng qua lời khai của bà Nguyễn Thị Bổng là mẹ của anh Đậu Đình T thừa nhận về điều kiện kết hôn của vợ chồng chị Nguyễn Thị V và anh Đậu Đình T đúng như chị Vân đã trình bày. Sau khi kết hôn xong vợ chồng anh Toản và chị Vân về sinh sống hạnh phúc với nhau cho đến cuối năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và cũng từ đó vợ chồng đã sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ cho đến nay
Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đậu Đình Q, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2015. Hiện nay đang sống cùng với anh Đậu Đình T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh NA phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý giải quyết cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án hoàn toàn tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V được ly hôn với anh Đậu Đình T
Về trách nhiệm nuôi con chung: Giao cháu Đậu Đình Q, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2015 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho chị Đậu Đình T.
Về phân chia tài sản: Không có yêu cầu nên không giải quyết.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Nguyễn Thị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án Tranh chấp Hôn nhân gia đình được quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại xã TT, huyện TC, tỉnh NA. Cho nên việc thụ lý, giải quyết thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh NA.
Tại phiên toà hôm nay bị đơn anh Đậu Đình T vắng mặt. Nhưng đây là phiên toà được mở lần thứ 2 cho nên việc xét xử vắng mặt bị đơn là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: chị Nguyễn Thị V và anh Đậu Đình T kết hôn với nhau hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TT, huyện TC, tỉnh NA theo đúng quy định. Sau khi kết hôn vợ chồng về sinh sống với nhau hạnh phúc cho đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình sống không hợp nhau. Xét thấy tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng. Nếu kéo dài cuộc hôn nhân này thì chỉ là hình thức chứ mục đích hôn nhân không đạt được cho nên cần chấp nhận cho chị Nguyễn Thị V được ly hôn với anh Đậu Đình T là đúng quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đậu Đình Q, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2015. Hiện nay đang sống cùng với anh Đậu Đình T. Nay ly hôn nguyện vọng của chị Nguyễn Thị V là muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đậu Đình Q và không yêu cầu anh Toản góp cấp dưỡng nuôi con
Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là chính đáng. Hiện nay cháu Đậu Đình Q còn nhỏ cần sự chăm sóc đặc biệt của người mẹ. Để đảm bảo về sự phát triển về mọi mặt cho cháu cho nên cần giao cháu Đậu Đình Q cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Đậu Đình T là phù hợp,
Về phân chia tài sản chung: Không có yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm
Về ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh NA tại phiên tòa. Xét thấy việc tuân theo quy định pháp luật và các nội dung liên quan đến việc giải quyết vụ án là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị V được ly hôn với anh Đậu Đình T
Về trách nhiệm nuôi con: Giao cháu Đậu Đình Q, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2015 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Đậu Đình T.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vô thăm nom con mà không ai được quyền cản trở người đó thực hiện quyền này.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một bên hoặc các bên thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản chung và nợ: Không có yêu cầu nên không xem xét
Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000 đồng ( ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0011751, ngày 29 tháng 2 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương. Chị Vân đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Nguyên đơn, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Nghệ An - VKS huyện Thanh Chương - Chi cục THA dân sự - UBND xã TT - Các đương sự. - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Thái Trƣờng Giang |