- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thường - Chính"
- Tòa quyết gì? [1]. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Ngọc T và bà Phạm Thị C.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04-03-2024 |
“V/v ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Bé Hai
2. Bà Nguyễn Thị Sương
- Thư ký phiên tòa: Bà Sơn Thị Chanh Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình tham gia phiên toà: Không.
Trong ngày 05 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 536/2023/TLST-HNGĐ, ngày 22/11/2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/01/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 11/2024/QĐ-HNGĐ, ngày 05/02/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1965 (Xin vắng)
Địa chỉ: ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long
- Bị đơn: Bà Phạm Thị C, sinh năm 1965 (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T trình bày: Vào năm 1990 qua quen biết nên ông Nguyễn Ngọc T và bà Phạm Thị C có tiến tới hôn nhân, sống chung như vợ chồng, không có tổ chức lễ cưới và không có đăng ký kết hôn.
Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến năm 2019 thì vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi và sống không hợp nhau, vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng hơn, bà Phạm Thị C đi làm cùng con rồi vợ chồng không liên lạc gì được với nhau, ông có liên lạc qua con gái thì nói bà C không về nữa, ông muốn làm gì thì làm, từ đó vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, mạnh ai nấy sống, không ai liên lạc gì với nhau. Ông thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Phạm Thị C.
Về con chung: Có con chung là Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 21/08/1995, đã trưởng thành, không đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn bà Phạm Thị C vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không trình bày:
- Trong đơn xin xét xử vắng mặt ngày 18/01/2024, nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T trình bày: Ông yêu cầu ly hôn với bà Phạm Thị C. Về con chung: Có con chung là Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 21/08/1995, đã trưởng thành, không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài các yêu cầu trên, các đương sự không có yêu cầu nào khác và cũng không có cung cấp tài liệu, chứng cứ mới tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về pháp luật tố tụng:
Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T khởi kiện yêu cầu ly hôn nên đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn”; bị đơn bà Phạm Thị C cư trú tại xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về pháp luật nội dung:
[1]. Xét yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Ngọc T:
Ông Nguyễn Ngọc T và bà Phạm Thị C qua quen biết rồi đi đến hôn nhân sống chung như vợ chồng, không có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật; như vậy mặc dù có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng hai bên không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn và hiện tại đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, nhưng không hàn gắn được, nay ông T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà C.
Hội đồng xét xử xét thấy, theo khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này…”.
Tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.
Do đó quan hệ hôn nhân giữa ông T, bà C là không hợp pháp và không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, nên Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Ngọc T và bà Phạm Thị C là có căn cứ.
[2]. Về con chung: Có con chung là Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 21/08/1995, đã trưởng thành, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3]. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4]. Về án phí: Ông Nguyễn Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 266, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 9, 14, 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1]. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Ngọc T và bà Phạm Thị C.
[2]. Về con chung: Có con chung là Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 21/08/1995, đã trưởng thành, nên không đặt ra giải quyết.
[3]. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4]. Về án phí: Ông Nguyễn Ngọc T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số No 0013720, ngày 22/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Ông T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm nên không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND huyện Tam Bình; - CCTHADS huyện Tam Bình; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Bảo |