- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "An Anh - Binh"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Ngọc Á được ly hôn anh Bùi Quân B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST Ngày: 18 - 7 - 2024 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Xuân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Xuân Trường và bà Đỗ Thị Hiên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Ngoan - Thẩ m tra viên Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 31/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024, về việc "ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 34/2024/QĐST -HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1997.
Địa chỉ: thôn B, xã K, huyện M, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Anh Bùi Quân B, sinh năm 1995.
Địa chỉ: thôn M, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.
( Chị Á có đơn xin vắng mặt, anh B vắng mặt tại phiên toà ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Á trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Á và anh B tự nguyện đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Kim Hoa, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội vào ngày 03/12/2018. Sau khi cưới vợ chồng chỉ sống ở nhà bố mẹ anh B tại xã V, huyện K một thời gian ngắn sau đó vợ chồng sinh sống tại huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội để tiện cho việc sinh hoạt. Thời gian đầu vợ chồng sinh sống cùng bố mẹ chị Á, sau đó thuê nhà ở riêng. Vợ chồng vẫn thường xuyên đưa con về nhà bố mẹ anh B chơi. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc đến năm 2019 phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, anh B không quan tâm đỡ đần chị trong cuộc sống gia đình. Khoảng năm 2020 vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng, anh B bỏ đi làm ăn nhiều tháng mới về, rất ít khi gọi điện hỏi thăm con và không gửi tiền để chị nuôi con. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay không ai còn quan tâm đến ai, vì vậy chị làm đơn đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.
Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Bùi Ngọc Kim T sinh ngày 23/3/2019, Bùi Bảo A sinh ngày 29/12/2020 và Bùi Thanh T1 sinh ngày 12/12/2022. Hiện tại cả 03 con đang sống cùng chị Á. Ly hôn chị Á có nguyện vọng nuôi cả 03 con và không yêu cầu anh Bình cấp dưỡng nuôi 03 con. Hiện nay chị Á làm nhân viên kho tại công ty TNHH điện tử Longcheer MeKo tại khu công nghiệp Quang Minh, thành phố Hà Nội thu nhập từ 8 đến 9 triệu đồng/tháng, chị có đủ khả năng để nuôi các con và chị cũng được bố mẹ đẻ hỗ trợ chị trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị Á khai vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ chung, không yêu cầ u Toà án giải quyết.
* Bị đơn anh Bùi Quân Bì trong quá trình giải quyết vụ án không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không tham gia tố tụng tại Tòa án, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự.
Người làm chứng - ông Bùi Văn S (bố đẻ anh B) trình bày: Vợ chồng chị Á, anh Bình sinh sống với gia đình ông một thời gian ngắn sau đó sinh sống tại gia đình bố mẹ chị Á tại Hà Nội, thi thoảng vợ chồng con cái vẫn về chơi với ông bà. Khoảng hơn 1 năm gần đây thì vợ chồng ít về hơn. Qua tìm hiểu ông được biết vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh B sống không hoà hợp, không giữ được hoà khí trong gia đình. Anh B hiện đi làm ăn, không có mặt ở nhà, ông cũng không biết cụ thể địa chỉ. Ông S đã biết việc chị Á làm đơn xin ly hôn và đã nhận được các giấy tờ chị Á gửi, mong muốn của ông là muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nuôi dạy các con, trường hợp chị Á vẫn cương quyết ly hôn thì ông để vợ chồng tự quyết định. Vợ chồng không có tài chung, không vay nợ chung. Ông Sàn đã nhận được các giấy tờ Toà án gửi cho anh B. Ông S thay mặt anh B nhận các văn bản của Toà án và đồng ý giao và thông báo lại nội dung cho anh B được biết.
Xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Vũ Bình thể hiện: Anh B có đăng ký hộ khẩu tại thôn M, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình và đăng ký kết hôn tại quê của chị Á. Sau khi kết hôn vợ chồng không sống tại địa phương mà sống tại huyện M, thành phố Hà Nội thi thoảng vợ chồng có đưa con về nhà bố mẹ anh Bình sống một thời gian rồi lại đi do đó quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn cụ thể như thế nào địa phương không nắm được. Vợ chồng có 03 con chung là Bùi Ngọc Kim T, Bùi Bảo A và Bùi Thanh T1 đều sống cùng chị Á. Anh B và chị Á không có tài sản chung, không vay nợ các tổ chức đoàn thể tại địa phương. Nay chị Á làm đơn xin ly hôn anh B, địa phương đề nghị Toà án giải quyết việc ly hôn của vợ chồng theo quy định pháp luật.
* Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình có quan điểm cho rằng Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện các quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị Á được ly hôn anh B; giao cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung Bùi Ngọc Kim T, Bùi Bảo A và Bùi Thanh T1, ghi nhận sự tự nguyện của chị Á về việc không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi 03 con. Về tài sản và nợ chung không đặ t ra giả i quyế t . Chị Á phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Xét thấy, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương tham gia phiên tòa là đúng với quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét thấy chị Á và anh B tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Kim Hoa, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng không được hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Tòa án đã triệu tập để hòa giải đoàn tụ vợ chồng nhưng anh B vắng mặt. Như vậy chứng tỏ đời sống chung của vợ chồng thực tế không còn tồn tại, hôn nhân giữa chị Á và anh B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần giải quyết cho chị Á được ly hôn với anh B là phù hợp với quy định tại điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung: Vợ chồng ly hôn, chị Á có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi 03 con chung. Xét thấy các con chung của vợ chồng chị Á, anh B đều còn rất nhỏ và đang được chị Á trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Á hiện đang làm việc tại công ty TNHH điện tử Longcheer MeKo tại khu công nghiệp Quang Minh, thành phố Hà Nội thu nhập ổn định từ 8 đến 9 triệu đồng/tháng. Hiện tại chị Á và các con đã chuyển về sống cùng bố mẹ chị Á, bố mẹ chị Á có điều kiện và khả năng kinh tế hỗ trợ chị Á trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc các con. Anh B hiện tại không có mặt tại địa phương, không có điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị Á, ý kiến của Viện kiểm sát: giao 03 con chung Bùi Ngọc Kim T, Bùi BảoA và Bùi Thanh T1 cho chị Á tiếp tục nuôi dưỡng phù hợp với quy định tại điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; ghi nhận sự tự nguyện của chị Á về việc không yêu cầu anh Bình cấp dưỡng 03 con chung. Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, giáo dục con chung.
Về tài sản và nợ chung: Chị Á khai không có tài sản chung và nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết, mặt khác anh B không có lời khai về tài sản chung và nợ chung nên Tòa án không đặ t ra giả i quyế t.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc Á phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Ngọc Á được ly hôn anh Bùi Quân B.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Ngọc Á trực tiếp nuôi dưỡng con chung Bùi Ngọc Kim T sinh ngày 23/3/2019, Bùi Bảo A sinh ngày 29/12/2020 và Bùi Thanh T1 sinh ngày 12/12/2022. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Á về việc không yêu cầu anh Bình cấp dưỡng nuôi 03 con. Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Chị Á và anh B có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và thay đổi cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về quan hệ tài sản: Không giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc Á phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, đối trừ số tiền tạm ứng án phí chị Á đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002103 ngày 25/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xương sang thi hành án phí. Chị Á đã nộp xong án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Á, anh Bình vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Kiến Xương; - Chi cục THADS huyện Kiến Xương; - Các đương sự; - UBND xã Kim Hoa,huyện mê Linh, TP Hà Nội ; - Lưu: hồ sơ, vp. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Thanh Xuân |