vanban.org

Bản án 33/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Hồ Thị Trúc S. Cho ly hôn giữa chị Hồ Thị Trúc S đối với anh Nguyễn Văn T.

Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận cháu Nguyễn Cẩm T1, sinh ngày 22/01/2012 là con chung của chị Hồ Thị Trúc S và anh Nguyễn Văn T; Tiếp tục giao cháu Nguyễn Cẩm T1 cho chị Hồ Thị Trúc S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (hiện cháu T1 đang sống chung với chị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con (S- T)"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Hồ Thị Trúc S. Cho ly hôn giữa chị Hồ Thị Trúc S đối với anh Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29-02-2024
V/v “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Linh;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Thanh;

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Thơ

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 295/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc: "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/01/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Trúc S, sinh năm 1991 (có đơn xin vắng mặt);

Cư trú: Tổ 09, khóm H, thị trấn A, huyện C, An Giang.

ĐCLL: Tổ 4, ấp A, xã A, huyện C, An Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1989 (vắng mặt);

Cư trú: Tổ 09, khóm H, thị trấn A, huyện C, An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hồ Thị Trúc S trình bày:

Thông qua người mai mối nên chị và anh Nguyễn Văn T quyết định chung sống từ năm 2011, hôn nhân xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C ngày 16/02/2011. Sau khi cưới thì chị về sống bên gia đình chồng, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian hơn 05 năm, đến đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, có nhiều bất đồng về quan điểm sống, nguyên nhân do anh T thường xuyên nhậu nhẹt nên vợ chồng hay cãi nhau, anh hay đánh đập chị vô cớ, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và ly thân từ tháng 5 năm 2022 đến nay. Trong thời gian ly thân anh T không gọi điện hỏi thăm hay mua đồ gửi con. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh T có 01 con chung tên Nguyễn Cẩm T1, sinh ngày 22/01/2012. Hiện tại cháu đang sống với chị; sau khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Cẩm T1, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn T: Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đến gia đình nhằm tạo điều kiện hòa giải đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa hai người nhưng anh T đều vắng mặt không lý do. Hiện nay chị Hồ Thị Trúc S đã không còn chung sống với anh T mà về sống tại nhà mẹ ruột, Tòa án không tiến hành lấy được lời khai của anh T, do anh không có mặt tại nhà vào thời điểm Tòa án đến và anh T cũng không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị S.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Trúc S có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn anh T: Vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần các văn bản tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị Trúc S, giải quyết cho chị S được ly hôn với anh Nguyễn Văn T; về con chung: giao cháu Nguyễn Cẩm T1 cho chị S nuôi dưỡng, anh T không cấp dưỡng nuôi con do chị S không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị S phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Chị Hồ Thị Trúc S và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 16 tháng 02 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Nay vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nên chị S yêu cầu ly hôn với anh T. Anh T có hộ khẩu thường trú ở khóm H, thị trấn A, huyện C, An Giang. Căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị S có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh vẫn vắng mặt. Việc vắng mặt không lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình được pháp luật bảo vệ nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại điểm Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Hồ Thị Trúc S xác nhận cuộc sống hôn nhân thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau khi cưới, vợ chồng hạnh phúc được hơn 05 năm, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên chị S yêu cầu được ly hôn với anh T.

Xét thấy, cuộc sống hôn nhân vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa chị S và anh T đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại. Tòa án tiến hành lấy lời khai của anh T theo quy định, nhưng không lấy được lời khai do anh T vắng mặt tại nhà. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh T đều vắng mặt, đồng thời không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng mà phía nguyên đơn chị S đã trình bày, cũng như không có văn bản thể hiện ý kiến hay có nguyện vọng là muốn duy trì quan hệ hôn nhân với chị S. Mặt khác, tại Biên bản lấy lời khai đối với bà Nguyễn Thị Hồng X là mẹ ruột của anh T thể hiện: Quá trình chung sống giữa chị S và anh T đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, cha mẹ hai bên đã cố gắng hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành, về quan hệ con chung phù hợp như lời trình bày của nguyên đơn. Bà H xác nhận phía anh T có nhận được các văn bản tố tụng của Tòa, nhưng vì bận làm ở xa nên không đến Tòa tham dự được, theo bà Hồng X thì giữa chị S và anh T cũng không có khả năng đoàn tụ.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân của chị S và anh T đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận yêu cầu của chị Hồ Thị Trúc S là được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Chị Hồ Thị Trúc S thừa nhận giữa chị và anh Nguyễn Văn T có 01 con chung tên Nguyễn Cẩm T1, sinh ngày 22/01/2012. Mặt khác, giấy khai sinh của cháu cũng đã thể hiện rõ điều này, do đó cần công nhận cháu Nguyễn Cẩm T1 là con chung của chị S và anh T. Hiện cháu T1 đang sống với chị S. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Tại bản tự khai của cháu Cẩm T1, cháu có nguyện vọng được sống với mẹ. Hội đồng nhận thấy, từ khi chị S và anh T ly thân, cháu T1 đã sống với mẹ, hơn nữa cháu T1 là bé gái nên sự chăm sóc của người mẹ sẽ phù hợp hơn. Do đó, để ổn định tâm lý và đảm bảo phát triển cuộc sống của cháu, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị Hồ Thị Trúc S là được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T1.

Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hồ Thị Trúc S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, tuy nhiên khi điều kiện kinh tế và điều kiện nuôi con có thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng trong một vụ kiện khác.

Anh Nguyễn Văn T có quyền tới lui, thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật.

Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Do chị Hồ Thị Trúc S có yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn T nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 9, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình 2014;

- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, khoản 2 Điều 227, 228, Điều 271, Điều 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Hồ Thị Trúc S. Cho ly hôn giữa chị Hồ Thị Trúc S đối với anh Nguyễn Văn T.

2. Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận cháu Nguyễn Cẩm T1, sinh ngày 22/01/2012 là con chung của chị Hồ Thị Trúc S và anh Nguyễn Văn T;

+ Tiếp tục giao cháu Nguyễn Cẩm T1 cho chị Hồ Thị Trúc S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (hiện cháu T1 đang sống chung với chị S); Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị S không yêu cầu;

+ Chị Hồ Thị Trúc S cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.

+ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm: Chị Hồ Thị Trúc S phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu số 0004524 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, An Giang, được khấu trừ nên chị S đã nộp xong.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Hồ Thị Trúc S và anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ