vanban.org

Bản án 33/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Võ Cẩm N được ly hôn với anh Ngô Hồng L.

Về quan hệ con chung: Giao người con chung của anh chị tên: Ngô Y, sinh ngày 06/5/2019 cho anh Ngô Hồng L được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được và hiện nay đang chung sống với anh Ngô Hồng L. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom co… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Võ Cẩm N và anh Ngô Hồng L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Võ Cẩm N được ly hôn với anh Ngô Hồng L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26-4-2024
“V/v ly hôn, tranh chấp
về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Minh Hằng

2. Ông Nguyễn Minh Trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 93/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Võ Cẩm N, sinh ngày 04 tháng 7 năm 1998 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp XA, xã TT, huyện AM, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Anh Ngô Hồng L, sinh ngày 06 tháng 11 năm 1996 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp XD, xã T, huyện AB, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 06 tháng 02 năm 2024 và đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt ngày 08 tháng 3 năm 2024, nguyên đơn chị Võ Cẩm N trình bày và yêu cầu như sau:

Chị và anh Ngô Hồng L chung sống với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện AB, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 79 ngày 30 tháng 5 năm 2018. Chị và anh Ngô Hồng L có 01 người con chung tên: Ngô Y, sinh ngày 06/5/2019, hiện nay đang sống với anh Ngô Hồng L; Về tài sản chung, chị và anh Ngô Hồng L không có tài sản chung; về nợ, chị và anh Ngô Hồng L không có nợ người khác, người khác không nợ anh chị. Quá trình chung sống chị và anh Ngô Hồng L sống không hòa hợp, thường xuyên bất hòa cự cãi với nhau về vấn đề kinh tế gia đình nên chị và anh Ngô Hồng L đã sống ly thân từ tháng 04 năm 2023 cho đến nay. Nay về quan hệ hôn nhân, chị thấy chị và anh Ngô Hồng L không còn tình cảm vợ chồng nữa, chị yêu cầu được ly hôn với anh Ngô Hồng L; về quan hệ con chung, khi ly hôn chị giao người con chung tên Ngô Y, sinh ngày 06/5/2019 cho anh Ngô Hồng L tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi. Về tài sản chung và nợ, chị và anh Ngô Hồng L không có tài sản chung, không có nợ, chị không yêu cầu giải quyết, chị đi làm ăn xa, không tham gia phiên tòa được, chị yêu cầu giải quyết sớm, chị xin vắng mặt, chị cam kết lời trình bày của chị là đúng sự thật và chịu trách nhiệm về lời trình bày của mình, ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.

* Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 05 tháng 3 năm 2024, đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt ngày 03 tháng 4 năm 2024 và trong quá trình tố tụng, bị đơn anh Ngô Hồng L trình bày như sau:

Anh và chị Võ Cẩm N chung sống, kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện AB, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn, anh và chị Võ Cẩm N chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2023 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi với nhau nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 04 năm 2023 đến nay. Trong thời gian chung sống anh và chị Võ Cẩm N có 01 người con chung tên: Ngô Y, sinh ngày 06/5/2019 hiện nay đang chung sống với anh; về tài sản chung và nợ, anh và chị Võ Cẩm N không có tài sản chung, không có nợ người khác, người khác không nợ anh chị. Nay về quan hệ hôn nhân, anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Võ Cẩm N; về quan hệ con chung, khi ly hôn anh yêu cầu được nuôi dưỡng người con chung đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được, anh không yêu cầu chị Võ Cẩm N cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ anh cam kết không có và anh không yêu cầu giải quyết sớm, ngoài ra anh không yêu cầu gì khác.

* Tại Biên bản xác minh ngày 05 tháng 3 năm 2024, về nguyên nhân mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân:

Anh Ngô Hồng L và chị Võ Cẩm N chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi về kinh tế gia đình, anh chị sống ly thân với nhau 03 năm nay. Anh Ngô Hồng L và chị Võ Cẩm N có 01 người con chung tên Ngô Y, sinh ngày 06/5/2019 hiện nay đang sống với anh Ngô Hồng L, tại ấp XD, xã T, huyện AB, tỉnh Kiên Giang.

* Tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án gồm: Căn cước công dân tên Võ Cẩm N (Bản phô tô); Giấy chứng nhận kết hôn chị Võ Cẩm N và anh Ngô Hồng L số: 79 ngày 30 tháng 5 năm 2018 của xã Tây Yên, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (Bản chính); Giấy khai sinh Ngô Y, sinh ngày 06/5/2019 (Bản sao); Căn cước công dân Ngô Hồng L (Bản phô tô); Đơn xin xác nhận tình trạng cư trú của người bị kiện ngày 06 tháng 02 năm 2024 của chị Võ Cẩm N (Bản chính); Biên bản xác minh ngày 05/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (Bản chính).

* Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Võ Cẩm N và bị đơn anh Ngô Hồng L gửi đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện các thủ tục tố tụng dân sự đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo pháp luật luật tố tụng dân sự và gửi đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt đề nghị Hội đồng xét xử, xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Xét đơn khởi kiện của chị Võ Cẩm N yêu cầu được ly hôn với anh Ngô Hồng L và giao con chung cho anh Ngô Hồng L nuôi là có căn cứ chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Võ Cẩm N được ly hôn với anh Ngô Hồng L. Về quan hệ con chung, khi anh chị ly hôn giao người con chung của anh chị cho anh Ngô Hồng L tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ, anh chị không yêu cầu giải quyết đề nghị miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Võ Cẩm N yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Ngô Hồng L và nuôi con. Bị đơn cư trú tại: ấp XD, xã T, huyện AB, tỉnh Kiên Giang nên xác định đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Ngô Hồng L biết và ấn định thời gian để anh có ý kiến về việc chị Võ Cẩm N khởi kiện yêu cầu được ly hôn và tranh chấp nuôi con thì anh Ngô Hồng L gửi văn bản trình bày ý kiến. Toà án tổ chức và thông báo cho các bên đương sự để tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì chị Võ Cẩm N gửi đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt chị. Như vậy, đây là thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh Ngô Hồng L thì anh gửi đơn yêu cầu xét xử vắng mặt anh. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Võ Cẩm N và anh Ngô Hồng L theo quy định tại khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét về quan hệ hôn nhân, chị Võ Cẩm N và anh Ngô Hồng L chung sống với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân xã T, huyện AB, tỉnh Kiên Giang là một trong những nơi anh chị cư trú) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 79 ngày 30 tháng 5 năm 2018, anh chị đảm bảo các điều kiện kết hôn khác theo quy định của pháp luật là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét khởi kiện của chị Võ Cẩm N được ly hôn với anh Ngô Hồng L, chị và anh Ngô Hồng L thường xuyên bất hòa cự cãi với nhau trong công việc làm ăn trong gia đình, anh Ngô Hồng L thường xuyên đi biển, không quan tâm vợ con. Chị thấy, chị và anh Ngô Hồng L không còn tình cảm vợ chồng, chị yêu cầu được ly hôn với anh Ngô Hồng L thì anh Ngô Hồng L cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Võ Cẩm N nhưng chị Võ Cẩm N không tham gia phiên họp, phiên tòa nên không công nhận sự tự thỏa thuận thuận tình ly hôn giữa anh chị được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị Kiểm sát viên và ghi nhận sự tự thuận tình ly hôn của chị Võ Cẩm N, anh Ngô Hồng L cho chị Võ Cẩm N được ly hôn với anh Ngô Hồng L là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung, chị Võ Cẩm N và anh Ngô Hồng L có 01 người con chung tên Ngô Y, sinh ngày 06/5/2019 đang sống chung với anh Ngô Hồng L. Khi ly hôn, chị Võ Cẩm N giao cho anh Ngô Hồng L tiếp tục nuôi dưỡng, anh Ngô Hồng L cũng đồng ý, đồng thời người con chung của anh chị từ khi anh chị ly thân đến nay chung sống với anh Ngô Hồng L, đã thích nghi với cuộc sống hiện tại. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, ý kiến yêu cầu của chị Võ Cẩm N và anh Ngô Hồng L, giao người con chung của anh chị cho anh Ngô Hồng L được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con, anh Ngô Hồng L không yêu cầu chị Võ Cẩm N cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ, chị Võ Cẩm N và anh Ngô Hồng L tự xác định, anh chị không có tài sản chung, không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và anh chị không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 241, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTV QH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Võ Cẩm N được ly hôn với anh Ngô Hồng L.

2. Về quan hệ con chung: Giao người con chung của anh chị tên: Ngô Y, sinh ngày 06/5/2019 cho anh Ngô Hồng L được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được và hiện nay đang chung sống với anh Ngô Hồng L.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Ngô Hồng L không yêu cầu chị Võ Cẩm N cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

4. Về tài sản chung và nợ: Chị Võ Cẩm N và anh Ngô Hồng L tự xác định, anh chị không có tài sản chung, anh chị không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và anh chị không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.

5. Về án phí: Buộc chị Võ Cẩm N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006568 ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị Võ Cẩm N đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ