vanban.org

Bản án 33/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND huyện An phú, tỉnh An Giang Tuyên án 21/02/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 JACCS.

Buộc bà Nhan Thị Mai L phải thanh toán số tiền 21.353.287đ (trong đó vốn 13.963.599đ, lãi trong hạn 6.340.765đ, lãi quá hạn 904.923đ, phía quản lý khoản vay 144.000đ) Kể từ ngày tuyên án (21/02/2024) bà L còn phải chịu lãi phát sinh do nợ quá hạn, lãi quá hạn, các loại phí cho đến khi bà L thanh toá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 JACCS.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 33/2024/DS-ST
Ngày: 21/02/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Phước Tân;

2. Ông Phan Công Văn.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện viên kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh T – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Phú mở phiên toà xét sử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 362/2023/TLST – DS ngày 14 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định xét xử số: 72/2024/QĐXXST - DS ngày 31/01/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty T1. Địa chỉ trụ sở: Lầu A Tòa nhà C, 7 N, phường V, Quận C, TP ..

Người đại diện theo pháp luật là ông T2 – chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền là bà Trần Việt N, chức vụ: Phó bộ phận cấp cao Bộ phận quản lý, Công nợ, theo văn bản ủy quyền số 17/2023/UQ-JIVF ngày 19/9/2023 của Tổng giám đốc.

Người nhận ủy quyền lại là ông Trần Minh H, sinh năm 1990 – chức vụ: Nhân viên quản lý công nợ JIVF. Địa chỉ liên hệ: Lầu A Tòa nhà C, 7 N, phường V, Quận C, TP ..

Bị đơn: Bà Nhan Thị Mai L (M), sinh năm 1998, cư trú: Ấp Q, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang.

(Tất cả cùng có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đại diện nguyên đơn ông Trần Minh H trình bày:

Ngày 31/05/2021, bà Nhan Thị Mai L ký hợp đồng với Công ty J để vay 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để sửa chữa nhà ở, hình thức trả góp hàng tháng với số tiền 1.252.767đ vào trước hoặc đúng ngày cuối hàng tháng cho đến khi kết thức hợp đồng bắt đầu từ ngày 30/6/2021, thời gian vay 24 tháng, lãi suất vay 3,4641%.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, từ ngày 01/7/2021 đến 28/02/2023, bà L thanh toán nợ gốc được 6.036.401 đồng và đến nay không thanh toán thêm dù nhân viên Công ty đã nhiều lần liên hệ và đến nhà làm việc.

Nhận thấy việc bà L không thanh toán đã vi phạm vào Điều 3, Điều 8 hợp đồng hai bên đã ký kết, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của JIVF. Do đó, JIVF khởi kiện yêu cầu bà L:

1. Phải thanh toán một lần toàn bộ khoản nợ cho JIVF với số tiền gốc 13.963.599đ, lãi 6.340.765đ, lãi quá hạn 904.923đ, phí quản lý khoản vay 144.000đ tính đến ngày 31/5/2023 với tổng số tiền 21.353.287đ.

2. Tiếp tục phải chịu tiền lãi phát sinh do nợ quá hạn, lãi quá hạn, các loại phí từ ngày 31/05/2023 cho đến khi bà L thanh toán đứt nợ theo hợp đồng số 930210001812080000 được ký vào ngày 31/05/2021.

Theo biên bản ghi lời khai ngày 31/01/2024, bà Nhan Thị Mai L trình bày:

Bà thừa nhận có nợ như đơn khởi kiện phía nguyên đơn. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà đã thanh toán được 12.656.698đ cho phía nguyên đơn. Hiện nay hoàn cảnh hiện khó khăn, bà không thể thanh toán một lần nên xin trả dần, miễn lãi suất và khoanh nợ với số tiền 13.963.599đ và xin lãi để tạo điều kiện thanh toán.

Ngày 31/01/2024, bà Nhan Thị Mai L có đơn xin vắng mặt tại các phiên hòa giải, phiên tòa.

Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.

Tại phiên tòa hôm nay, ông H giao nộp Bản tự khai về nội dung khởi kiện, lịch sử thanh toán chi tiết, bản kê khai tiền lãi chi tiết, bản kê khai tiền lãi quá hạn tính đến ngày 21/02/2024. Đồng thời, ông H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ban đầu.

Bà Nhan Thị Mai L bảo lưu ý kiến

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, tiến hành thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật, bảo đảm đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự; Thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát, HĐXX nhận định:

Về quan hệ pháp luật: C khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nhan Thị Mai L thanh toán tổng số tiền gốc lãi đến ngày 21/02/2024 là 21.353.287đ nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là phù hợp theo quy định tại tại khoản 2, khoản 9, Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Khoản 2, Điều 14, Điều 5, Điều 6, Điều 365 và Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về thời hiệu, thẩm quyền giải quyết:

Theo hợp đồng tín dụng ngày 31/05/2021 giữa C và bà L ký kết thì thời hạn vay 24 tháng, trong quá trình thực hiện hợp đồng bà L không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán. Ngày 08/01/2024, phía Cty tài chính khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 154 và Điều 429 Bộ luật dân sự 2015 thì thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

Bà L hiện có địa chỉ nơi đăng ký thường trú tại xã Q, huyện A. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, An Giang.

[3] Về tư cách tham gia tố tụng: Trong vụ án này do C khởi kiện bà L nên xác định C là nguyên đơn, bà L là bị đơn; việc ủy quyền của bà H1 ( Nga) với ông Trần Minh H là đúng quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 68, Điều 87 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, hai bên thống nhất nội dung hợp đồng tín dụng về thời gian vay, số tiền vay, lãi suất vay và số tiền còn nợ lại. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định giữa bà L có ký kết hợp đồng vay với C như đơn khởi kiện đã thể hiện.

Căn cứ Điều 463, 465, 466 Bộ luật dân sự 2015 quy định nghĩa vụ trả nợ của bên vay là trả đủ tiền và đúng hạn. Tuy nhiên, đã quá thời hạn thanh toán theo thỏa thuận mà bà L không trả nợ.

Tại phiên tòa, phía nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với số tiền gốc 13.963.599đ, lãi trong hạn 6.340.765đ, lãi quá hạn 904.923đ tính đến ngày 21/02/2024 là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Kể từ ngày tuyên án (21/02/2024) bà L còn phải chịu lãi phát sinh do nợ quá hạn, lãi quá hạn, các loại phí cho đến khi bà L thanh toán đứt nợ theo hợp đồng số 930210001812080000 được ký vào ngày 31/05/2021.

Bà L xin miễn lãi nhưng không được phía nguyên đơn đồng ý. Nguyên tắc việc vay và trả lãi được xem xét theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, phía nguyên đơn không đồng ý nếu quá trình thi hành bản án, bị đơn có yêu cầu thì nguyên đơn sẽ xem xét. Do đó, việc giảm lãi suất là quyền quyết định của nguyên đơn, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét yêu cầu của bị đơn.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí.

Bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 161, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 429, 463, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, khoản 2 Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 JACCS.

Buộc bà Nhan Thị Mai L phải thanh toán số tiền 21.353.287đ (trong đó vốn 13.963.599đ, lãi trong hạn 6.340.765đ, lãi quá hạn 904.923đ, phía quản lý khoản vay 144.000đ)

Kể từ ngày tuyên án (21/02/2024) bà L còn phải chịu lãi phát sinh do nợ quá hạn, lãi quá hạn, các loại phí cho đến khi bà L thanh toán dứt nợ theo hợp đồng số 930210001812080000 được ký vào ngày 31/05/2021.

2. Về án phí:

Bà Nhan Thị Mai L phải chịu 1.067.664đ án phí dân sự sơ thẩm.

Công ty T1 JACCS được nhận lại số tiền 534.000đ tạm ứng án phí theo biên lai tạm ứng án phí số 0009166 ngày 12/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Phú.

Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21/02/2023) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

(Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.).

Cỡ chữ