- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "ông Nguyễn Xuân H kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bà Võ Thị C"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân H đối với bà Võ Thị C về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN ND Q.SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2023/HSST Ngày 20.7.2023 V/v “Tranh chấp HĐ vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thanh Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Lệ Thủy và ông Nguyễn Văn Đời
- Thư ký phiên toà: Ông Lã Phú Huy - Thư ký Toà án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Ngày 20 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 103/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2023/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân H; Sinh năm: 1965; Địa chỉ: Thôn 1, xã Tiên L, Huyện Tiên Ph, tỉnh Quảng Nam.có mặt
*Bị đơn: Bà Võ Thị C; Sinh năm:1983; Địa chỉ: Kiệt 35/33 Tô Hiến Th, phường PhM, quận S, thành phố Đà Nẵng.có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện nộp đến Tòa án, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn ông Nguyễn Xuân H trình bày: Tôi và bà Võ Thị C là người cùng quê tại xã Tiên Hiệp, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, do hoàn cảnh bà Võ Thị C khó khăn một mình nuôi hai con nhỏ, tôi là người phụ trách quỹ khuyến học nên đã từng giúp cho hai con bà Võ Thị C trong quá trình học tập.
Do bà Võ Thị C cần vốn làm ăn nên có hỏi mượn tiền tôi, thấy là chổ đồng hương nên tôi đồng ý cho mượn, hai bên tin tưởng nhau nên không viết giấy tờ gì cả mà chỉ có Chứng từ chuyển khoản tại Ngân hàng cụ thể:
Ngày 01.8.2018, tôi có chuyển cho bà Võ Thị C số tiền 65.000.000 đồng, chuyển qua Ngân hàng Sacombank tại TP Tam Kỳ, Quảng Nam
Ngày 29.8.2018, tôi có chuyển cho bà Võ Thị C số tiền 145.000.000 đồng, chuyển qua Ngân hàng Agribank tại Tiên Phước, Quảng Nam.
Tổng cộng 02 lần chuyển là 210.000.000 đồng, trong có 200.000.000 đồng là tiền tôi cho bà Võ Thị C mượn và 10.000.000 đồng tôi nhờ bà C mua giúp dụng cụ sinh hoạt cảu gia đình tôi.
Đến cuối năm tôi có yêu cầu bà Võ Thị C trả lại số tiền đã mượn nhưng bà Cứ cứ khất lần chưa chịu trả cho tôi, và trong toàn bộ tin nhắn giữa tôi và bà C thì bà C đều thừa nhận còn nợ tôi số tiền 200.000.000 đồng, Việc tôi cho mượn tiền này là không có lãi mà chỉ giúp nhau thôi. Đối với việc bà C cho rằng bà C cho người khác mượn giờ chưa lấy lại được nên chưa có tiền trả lại cho tôi, việc bà C cho ai mượn lại tôi không hề biết, chỉ biết tiền tôi giúp cho bà C mượn nên tôi yêu cầu bà C phải trả lại cho tôi.
Nay tôi khởi kiện yêu cầu bà Võ Thị C phải trả lại cho tôi số tiền đã mượn là 200.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.Trong quá trình giải quyết bà Võ Thị C xác nhận chỉ có nợ 190.000.000 đồng nên tôi đồng ý với số tiền bà C nợ tôi là 190.000.000 đồng.
* Bị đơn bà Võ Thị C trình bày: Tôi xác nhận tôi và anh H là chổ thân quen, nhiều lần anh H đã giúp đỡ tôi một số tiền để trang trải cuộc sống của bản thân tôi.
Tôi xác nhận anh H đã chuyển cho tôi 02 lần tiền là 210.000.000 đồng như anh H trình bày nhưng trong 02 lần chuyển tiền này anh H hứa cho tôi 20.000.000 đồng để trả nợ Ngân hàng như vậy hiện nay tôi còn nợ anh H 190.000.000 đồng, tiền này tôi sẽ trả khi nào tôi lấy được tiền từ người tôi cho mượn tôi sẽ trả lại cho anh H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, HĐXX nhận định:
.Về thủ tục tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp đòi tiền giữa ông Nguyễn Xuân H và bà Võ Thị C thuộc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt theo quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 của BLTTDS. Tại phiên tòa hôm nay, Các đương sự không xuất trình thêm chứng cứ mới.
Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân H và bà Võ Thị C, Hội đồng xét xử thấy:
Xét thấy trên cơ sở quen biết và tin tưởng lẫn nhau, nên vào ngày 01.8.2018 anh H đã chuyển cho bà Võ Thị C số tiền 65.000.000 đồng và vào ngày 29.8.2018 anh H chuyển tiếp 145.000.000 đồng, số tiền này anh H tạo điều kiện để bà C cho vay lấy lãi trang trải cuộc sống, tổng cộng 02 lần chuyển là 210.000.000 đồng, Trong tổng số tiền 210.000.000 đồng anh H có hổ trợ bà C số tiền 20.000.000 đồng, Nay anh H khởi kiện yêu cầu bà C phải trả lại số tiền đã mượn là 190.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.
Tại bản tự khai, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, hai bên đều xác nhận bà Võ Thị C có nợ ông Nguyễn Xuân H số tiền là 190.000.000 đồng nhưng thời gian thanh toán các bên đương sự đã không thống nhất nên căn cứ vào khoản 2 Điều 92 BLTTDS năm 2015, HĐXX công nhận việc bà Võ Thị C có nợ của ông Nguyễn Xuân H số tiền 190.000.000 đồng là đúng sự thật.
Ông Nguyễn Xuân H và bà Võ Thị C đều đã trưởng thành và đủ năng lực hành vi dân sự, xuất phát từ sự thoả thuận của hai bên nên giao dịch dân sự giữa anh H và bà C là hợp pháp. Bà C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, do đó anh H khởi kiện để đòi lại số tiền nợ là chính đáng, hợp lý. Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. HĐXX xét thấy bà C không trả nợ nên vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 463, 466 BLDS năm 2015. Do đó, HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Hiến buộc bà Võ Thị C phải trả lại số tiền 190.000.000 đồng có căn cứ.
Về tiền lãi: anh H không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Án phí Dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 9.500.000 đồng (chín triệu năm trăm ngàn đồng )
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: -các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự;
-Điều 92, khoản 2 Điều 227, các điều 235 và 273 Bộ luật TTDS.
-khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân H đối với bà Võ Thị C về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Xử: Buộc bà Võ Thị C phải thanh toán cho ông Nguyễn Xuân H số tiền là 190.000.000 đồng (một trăm chín mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Án phí dân sự sơ thẩm là 9.500.000 đồng (chín triệu năm trăm ngàn đồng ) bà Võ Thị C phải chịu.
Hoàn trả cho ông Nguyễn Xuân H số tiền tạm ứng án phí 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) đã nộp tại biên lai thu số 0003823 ngày 16.6.2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà.
3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Riêng những người vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện Kiểm sát Sơn Trà; - Chi cụcThi hành án Sơn Trà; - Sở Tư pháp - Hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thanh Thủy |