vanban.org

Bản án 33/2023/HSST — Hình sự

TAND TX. Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 15/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn thụ hình tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/10/2022. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỔ YÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:33/2023/HSST
Ngày:15/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Thu Thủy.

- Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Quý Minh Ánh.

2. Ông Nguyễn Hồng Hải.

Thư ký phiên tòa: Ông Cao Văn Chiến-Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Đào Việt Yên-Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:19/2023/QĐXX-ST ngày 31/01/2023 đối với bị cáo:

Phạm Văn H; tên gọi khác: Không; sinh năm 2000 tại Đại Từ-Thái Nguyên; trú tại: Xóm HT2, xã MT, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá lớp: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B và bà Trần Thị N; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 30/8/2021 có hành vi “Trộm cắp tài sản” bị Công an xã Phúc Lương, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đồng tại quyết định số 14669/QĐ-XPHC ngày 27/12/2021 (ngày 30/12/2021 H đã nộp xong khoản tiền phạt).

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, giam từ ngày 04/10/2022 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên toà).

*Người chứng kiến:

1. Ông Nguyễn Anh H, sinh năm 1977;

Trú tại: Tổ dân phố CS, phường T T, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

2. Ông Lê Trung H, sinh năm 1964;

Trú tại: Tổ dân phố TH, phường TT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

(Ông H, ông H đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 50 phút ngày 04/10/2022, Tổ công tác của Công an thành phố Phổ Yên và Công an phường TT, thành phố Phổ Yên thực hiện việc tuần tra, kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực đường Quốc lộ 3 cũ thuộc tổ dân phố KT, phường TT, thành phố Phổ Yên thì phát hiện một đối tượng nam giới sau xác định được là Phạm Văn H có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra H tự lấy trong lòng bàn tay trái của H giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy, bên trong có chứa chất rắn màu trắng đục, H khai số chất rắn màu trắng đục là ma túy loại Heroine, H mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, niêm phong số vật chứng thu giữ được của H đưa về cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên để giải quyết theo thẩm quyền.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng số chất rắn màu trắng đục thu giữ của Phạm Văn H được 0,366 gam. Lấy toàn bộ chất rắn màu trắng đục cho vào phong bì niêm phong ký hiệu K3 gửi giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 1610/KL-KTHS ngày 12/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Chất rắn màu trắng đục trong phong bì ký hiệu K3 gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine. Khối lượng là: 0,366gam.

Quá trình điều tra xác định được: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 04/10/2022, H đi nhờ xe của người đi đường từ khu vực ngã tư Nam Tiến, thành phố Phổ Yên đến khu vực tổ dân phố Kim Tỉnh, phường Trung T, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên với mục đích mua ma túy để sử dụng. Khi đến khu vực tổ dân phố Kim Tỉnh, H xuống xe và đi bộ đến trước cửa ngôi nhà có cửa bằng sắt đóng kín phía bên trái hành lang đường Quốc lộ 3 cũ hướng Thái Nguyên đi Hà Nội, H không biết chủ nhà là ai, H cầm 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) đưa qua lỗ nhỏ sát đường bê tông vào bên trong ngôi nhà thì có người cầm tiền rồi đưa qua lỗ cửa nhỏ ra ngoài cho H 01 gói giấy bên trong có chứa ma túy loại Heroine. Sau khi mua được ma túy, H đi bộ ra hành lang đường Quốc lộ 3 cũ để bắt xe đi về thì bị bắt quả tang, thu giữ số vật chứng như nêu ở trên.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay, Phạm Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Bị cáo đã thừa nhận ngày 04/10/2022 đã có hành vi tàng trữ 0,366 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích gì khác.

Tại Bản cáo trạng số: 23/CT- VKSPY ngày 05/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc thẩm vấn đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Phạm Văn H từ 24 đến 30 tháng tù;

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo;

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K3 ghi hoàn trả 0,348 gam mẫu K3 và vỏ bao gói mẫu K3; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi mẫu lưu kho của Phạm Văn H.

Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo H.

Phần tranh luận: Bị cáo H không tranh luận gì, nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát. Nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm được về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về việc cử người trợ giúp pháp lý miễn phí cho bị cáo H: Quá trình điều tra xác định bị cáo là hộ cận nghèo thuộc diện được hưởng trợ giúp pháp lý miễn phí. Tuy nhiên bị cáo H đã có đơn từ chối hưởng trợ giúp pháp lý miễn phí. Tại phiên toà bị cáo H vẫn giữ nguyên quan điểm từ chối hưởng trợ giúp pháp lý. Xét thấy đây là ý chí tự nguyện của bị cáo, do vậy các cơ quan tiến hành tố tụng không đề nghị Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thái Nguyên cử người trợ giúp pháp lý miễn phí cho bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

. Về sự vắng mặt của người chứng kiến: Tại phiên tòa người chứng kiến ông Hùng, ông Huấn vắng mặt. Bị cáo H và đại diện viện Kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Xét thấy người chứng kiến đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Toà án đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện, khách quan, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, Bản kết luận giám định chất ma tuý và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Bản thân Phạm Văn H là người nghiện ma tuý, khoảng 09 giờ 30 phút ngày 04/10/2022, H đi nhờ xe của người đi đường từ khu vực ngã tư Nam Tiến, thành phố Phổ Yên đến khu vực tổ dân phố KT, phường TT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên với mục đích mua ma túy để sử dụng. Khi đến khu vực tổ dân phố KT, H xuống xe và đi bộ đến trước cửa ngôi nhà có cửa bằng sắt đóng kín phía bên trái hành lang đường Quốc lộ 3 cũ hướng Thái Nguyên đi Hà Nội. H cầm 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) đưa qua lỗ nhỏ sát đường bê tông vào bên trong ngôi nhà thì có người cầm tiền rồi đưa qua lỗ cửa nhỏ ra ngoài cho H 01 gói giấy bên trong có chứa ma túy loại Heroine. Sau khi mua được ma túy, H đi bộ ra hành lang đường Quốc lộ 3 cũ để bắt xe đi về thì bị Công an thành phố Phổ Yên phát hiện bắt giữ, thu được số vật chứng là Heroin có trọng lượng 0,366 gam, H khai mua số ma tuý này để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích gì khác. Như vậy hành vi, ý thức nêu trên của Phạm Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo Phạm Văn H theo tội danh và Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...

c) Heroine,... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam...”.

. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, xuất phát từ việc nghiện ma tuý, bị cáo đã đi mua ma tuý về để sử dụng cho bản thân từ đó đã dẫn bị cáo đến việc phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây mất trật tự an ninh tại địa phương, tiếp tay cho những đối tượng mua bán chất ma tuý, làm gia tăng tội phạm, gây bất bình trong nhân dân. Do đó việc đưa bị cáo ra xét xử bằng pháp luật hình sự là cần thiết, để cải tạo giáo dục bị cáo và để răn đe, phòng ngừa tội phạm.

. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt thấy: Bị cáo xuất thân từ nhân dân lao động được gia đình nuôi ăn học đến lớp 9 thì nghỉ học, do thiếu tu dưỡng rèn luyện, thiếu bản lĩnh nên đã mắc nghiện ma tuý. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo là người nghiện ma tuý, có tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã không lấy đó làm bài học để sửa chữa mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, qua đó thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có thể cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt được.

Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà là phù hợp, được chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện, không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K3 ghi hoàn trả 0,348 gam mẫu K3 và vỏ bao gói mẫu K3; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi mẫu lưu kho của Phạm Văn H. Đây là số ma tuý còn lại sau giám định và là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu huỷ.

. Về án phí: Bị cáo H là hộ cận nghèo nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về thu, miễn giảm án phí, lệ phí tòa án, miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo H.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ trong vụ án, Phạm Văn H khai mua tại ngôi nhà có cửa bằng sắt đóng kín phía bên trái hành lang đường Quốc lộ 3 cũ hướng Thái Nguyên đi Hà Nội thuộc khu vực tổ dân phố KT, phường TT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, H không rõ là nhà của ai và ai là người đã bán ma tuý cho H. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn thụ hình tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/10/2022.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Ra quyết định tạm giam bị cáo Phạm Văn H 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo công tác thi hành án.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K3 ghi hoàn trả 0,348 gam mẫu K3 và vỏ bao gói mẫu K3; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi mẫu lưu kho của Phạm Văn H.

“Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Phổ Yên với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 11/01/2023”.

5. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phạm Văn H.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ