vanban.org

Bản án 33/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 27/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lò Thị N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Lò Thị N 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (17/7/2023). Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 136,5 gam thuốc phiện (Vật chứng hoàn lại sau giám định), 01 túi nilon màu trắng, 01 mảnh băng dí… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Thị N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ Đ PHỦ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH Đ
Bản án số: 33/2023/HSST
Ngày: 27 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ PHỦ, TỈNH Đ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Thúy Thành

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Việt Hà

2. Bà Đỗ Thị Thu Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Minh Thắng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đ Phủ, tỉnh Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ Phủ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ Phủ, tỉnh Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Thị N. Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày: 22/9/1969, tại tỉnh Đ;

Nơi cư trú: Bản N, xã T, huyện Đ, tỉnh Đ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 7/10 phổ thông; Con ông: Lò Văn C (Đã chết), con bà: Cà Thị P; Chồng: Lò Văn H (Đã chết); Bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1998. Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/7/2023, sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 13/7/2023, bị cáo Lò Thị N điều khiển xe mô tô nhãn hiện 27H2 - 0732 đi một mình đến xã Hua Thanh, huyện Đ tìm mua ma tuý để bán cho một người đàn ông tên là Tuấn (không rõ địa chỉ) để kiếm lời. Tại đây, bị cáo N gặp và mua được 01 gói thuốc phiện được gói bằng nilon màu trắng, bên ngoài quấn băng dính màu trắng với giá 6.000.000 đồng của một người đàn ông không quen biết. N mang gói Thuốc phiện về nhà lấy túi nilon màu trắng cho gói thuốc phiện vào và chôn xuống đất ở cạnh nhà. Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 17/7/2023 Tuấn gọi điện thoại và bảo N mang thuốc phiện đến phòng 604, khách sạn Hải Vân bán cho Tuấn với giá 10.000.000 đồng. Hồi 12 giờ 20 phút cùng ngày, bị cáo N mang gói Thuốc phiện đến tầng hầm của khách sạn Hải Vân, thuộc tổ 21, phường Him Lam, thành phố Đ Phủ để bán cho Tuấn thì bị tổ công tác Công an thành phố Đ Phủ làm nhiệm vụ kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ trong túi áo kHc bên trái, phía trước N đang mặc 01 túi Thuốc phiện (có đặc điểm như trên) có khối lượng 174,06 gam.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng hồi 14 giờ 30 phút, ngày 17/7/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ Phủ và kết luận giám định số 1186/KL-KTHS ngày 23/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu chất dẻo màu nâu đen thu giữ của bị cáo Lò Thị N là ma túy, loại thuốc phiện, khối lượng 174,06 gam.

Tại bản cáo trạng số 171/CT-VKS-TPĐBP ngày 01/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ Phủ đã truy tố bị cáo Lò Thị N về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 251/BLHS.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ Phủ giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lò Thị N về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38/BLHS, xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 136,5 gam thuốc phiện (Vật chứng hoàn lại sau giám định), 01 túi nilon màu trắng, 01 mảnh băng dính màu trắng, 01 mảnh nilon màu trắng, 02 sim điện thoại; Tịch thu sung ngân sách 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ - xám- đen BKS: 27H2 – 0732, kèm 01 chìa khóa xe, đăng ký xe mang tên Lò Văn Hóa (Chồng bị cáo), 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu TECNO SPARK 7T. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lò Thị N không có lời bào chữa nào, nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ Phủ.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi của bị cáo bị truy tố: Hồi 12 giờ 20 phút, ngày 17/7/2023, tại khách sạn Hải Vân, thuộc tổ dân phố 21, phường Him Lam, thành phố Đ Phủ, tỉnh Đ, bị cáo Lò Thị N có hành vi cất giấu trái phép trên người 174,06 gam thuốc phiện, mục đích để bán kiếm lời.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 45 phút ngày 17/7/2023, biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng hồi 14 giờ 30 phút, ngày 17/7/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ Phủ và kết luận giám định số 1186/KL-KTHS ngày 23/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Đ.

Do đó có đủ cơ sở khẳng định: Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy, với mục đích để bán kiếm lời của bị cáo Lò Thị N là phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251/BLHS.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố đẻ bị cáo là ông Lò Văn Chựa là người có công với cách mạng, được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52/BLHS.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo là hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo nhận thức rõ hành vi cất giấu trái phép chất ma túy để bán kiếm lời là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, với khối lượng ma túy mà bị cáo đã tàng trữ thì mức hình phạt mà đại diện viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Đ Phủ, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ Phủ, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251/BLHS thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, nghề nghiệp của bị cáo là làm ruộng, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Đối với người đàn ông tên Tuấn, nhờ bị cáo đi mua ma túy, nhưng bị cáo không biết họ, tên đệm, địa chỉ cụ thể của người này, người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, bị cáo cũng không biết họ, tên, địa chỉ của người này, cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Vật chứng: Đối với 136,5 gam thuốc phiện (Vật chứng hoàn lại sau giám định), là vật cấm tàng trữ, 01 túi nilon màu trắng, 01 mảnh băng dính màu trắng, 01 mảnh nilon màu trắng, 02 sim điện thoại, là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy, 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ - xám- đen BKS: 27H2 – 0732, kèm 01 chìa khóa xe, đăng ký xe mang tên Lò Văn Hóa (Chồng bị cáo), 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu TECNO SPARK 7T, là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38/BLHS.

- Tuyên bố bị cáo Lò Thị N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

- Xử phạt bị cáo Lò Thị N 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (17/7/2023).

2.Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 136,5 gam thuốc phiện (Vật chứng hoàn lại sau giám định), 01 túi nilon màu trắng, 01 mảnh băng dính màu trắng, 01 mảnh nilon màu trắng, 02 sim điện thoại số 0984207423, 0787078656. Tịch thu sung ngân sách: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ - xám- đen BKS: 27H2 – 0732, số khung: RLHJC43149Y052205, số máy: JC43E-0578776, xe đã qua sử dụng, kèm 01 chìa khóa xe, 01 đăng ký xe moto xe máy số 030870 mang tên Lò Văn Hóa, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu TECNO SPARK 7T, màu xanh, số imei 1: 351309183155985, số imei 2: 351309183155993 (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/11/2023 giữa Công an thành phố Đ Phủ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ Phủ, tỉnh Đ).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS,điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333/BLTTHS, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 27/11/2023).

Cỡ chữ