vanban.org

Bản án 33/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An Tuyên án 11/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trương Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Trương Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt 02 tội buộc bị cáo Trương Văn H chấp hành hình phạt chung của hai tội là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Trương Văn Huỳnh phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ HỢP
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33 /2023/ HSST
Ngày 11/ 5 /2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Quán Vi Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hường.

Ông Vi Văn Tý.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà:Bà Kim Thị Mai – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Vi Ngọc Sơn – Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 11 tháng 05 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/TLST-HS ngày 10 tháng 04 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2023/QĐST–HS ngày 28 tháng 04năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trƣơng Văn H; tên gọi khác: Không

Sinh năm 1995 tại huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An;

Nơi cư trú: xóm Đ, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: không; Con ông: Trương Văn N (đã chết); Con bà: Bùi Thị T; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2022 đến nay, tại nhà tạm giữ Công an huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. ( Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trương Thị Phương L, sinh năm 2001. ( Vắng mặt).

Trú tại: xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An

2. Anh Nguyễn Hồng P, sinh năm 2002.

Trú tại: xóm M, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

( Vắng mặt).

Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Hương L, sinh năm 1979.

Trú tại: xóm Đ, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

( Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ 30 phút ngày 30/12/2022, tại phòng 402 Nhà nghỉ Q thuộc xóm Đ, xã N, huyện Q, tổ công tác phòng cảnh sát điều tra tội phạm ma túy - Công an tỉnh Nghệ An phối hợp với Công an huyện Quỳ Hợp, Công an xã Nghĩa Xuân phát hiện bắt quả tang thu giữ trong túi quần bên phải của Trương Văn H 01 túi nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi ma túy đá); 01 gói ni lông màu trắng có viền màu cam bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi ma túy đá) thu giữ trong cán chổi lau nhà, 01 bộ cóng thủy tinh, 01 bật lửa, một chai nhựa dán nhãn hiệu trà xanh không độ.

Cơ quan điều tra tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại xác định, tổng số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Trương Văn H là 3,310 gam trong đó: Gói thứ nhất có 3,170 gam chất tinh thể màu trắng nghi ma túy lấy 0,6 gam đi giám định (ký hiệu M1); Gói thứ hai: có 0,140 gam chất tinh thể màu trắng nghi ma túy lấy 0,075 gam đi giám định (ký hiệu M2). Số còn lại 2,635 gam được niêm phong lại theo quy định.

Tiến hành mở niêm phong xác định kích thước, đặc điểm hình dáng, niêm phong lại: 01 nắp chai nhựa màu xanh, trên nắp chai có gắn một ống hút làm bằng nhựa màu trắng nối liền nhau có chiều dài 40 cm và gắn một ống thủy tinh gấp khúc, một đầu bị vỡ, một đầu gắn với một ống nhựa màu trắng có chiều dài 20 cm là dụng cụ để sử dụng ma túy đá của Trương Văn Huỳnh.

Kết luận giám định số 76/KL – KTHS (Đ2- MT) ngày 06/01/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: 2 (hai) mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M1 và M2) thu giữ của Trương Văn H gửi tới giám định đều là ma túy (Methamphetamine). Số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Trương Văn H có tổng khối lượng là 3,310 gam (Ba phẩy ba trăm mười gam).

Kết luận giám định số 121/KL – KTHS (Đ2 – MT) ngày 20 tháng 01 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Trong ống hút làm bằng nhựa màu trắng nối liền nhau có chiều dài 40 cm và trong ống thủy tinh gấp khúc, một đầu bị vỡ, một đầu gắn với ông nhựa màu trắng có chiều dài 20 cm thu giữ của Trương Văn Huỳnh gửi tới giám định đều có bám dính chất ma túy (Methamphetamine).

Bản cáo trạng số 31/CT-VKSQH ngày 07/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Trương Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1, Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Trương Văn H khai nhận: Ngày 29/12/2022, Trương Văn H đi chơi ở khu vực quảng trường H thuộc thành phố V, tỉnh Nghệ An thì gặp một người đàn ông làm nghề lái xe ôm, không rõ tên, tuổi, địa chỉ và H có nhờ người đàn ông đó mua cho H 1.500.000đ ma túy đá thì người đàn ông đó đồng ý. H đưa trước cho người đàn ông đó 800.000đ, khoảng 15 phút sau, người đàn ông đó quay lại đưa cho H 01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy đá. Huỳnh đưa lại cho người đàn ông đó số tiền 700.000đ. Sau khi mua được ma túy đá, Huỳnh bắt xe khách về nhà ở xóm Đ, xã N, huyện Q. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, H đi từ nhà xuống nhà nghỉ Q thuộc xóm Đ, xã N, huyện Q thuê phòng nghỉ và sử dụng ma túy.

Tại phòng nghỉ 402 của nhà nghỉ Q, H chia gói ma túy mua được thành hai gói. Một gói nilon màu trắng có viền màu cam, bên trong có chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá, H cất giấu trong cán chổi lau nhà, một gói nilon màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá, H cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc với mục đích để sử dụng. Sau khi chia ma túy xong, Trương Văn H đã trực tiếp chuẩn bị các dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma túy gồm có: 01 (một) nắp chai nhựa màu xanh, trên nắp chai có gắn một ống hút làm bằng nhựa màu trắng nối liền nhau có chiều dài 40 cm và gắn một ống thủy tinh gấp khúc, một đầu gắn với một ống nhựa màu trắng có chiều dài 20 cm (thường gọi là bộ cóng); 01 chai nhựa có nhãn hiệu trà xanh không độ; 01 bật lửa. Sau đó, H sử dụng số điện thoại 0984.777.054 gọi điện vào số 0969.041.050 của Trương Thị Phương L, là người yêu của H đến phòng 402 nhà nghỉ Q với mục đích cùng sử dụng ma túy với H. Tại đây, Huỳnh hỏi Linh “có chơi ma túy không”, L nói “có thì chơi”. H và L đã sử dụng ma túy đá cùng nhau tại phòng 402 nhà nghỉ Q và nghỉ qua đêm tại đó. Đến sáng ngày 30/12/2022, thì bị Công an huyện Quỳ Hợp phát hiện bắt quả tang. Bị cáo Trương Văn H nhất trí với cáo trạng của VKSND huyện Quỳ Hợp truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; khoản 1 điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 điều 55 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Văn H từ 02 năm tù đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp 02 tội buộc Trương Văn H chấp hành hình phạt chung là từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- 3,310 g (ba phẩy ba trăm mười gam) ma túy đá (Methamphetamine) thu giữ khi bắt quả tang Trương Văn H. Hội đồng đã lấy 0,6 g (không phẩy sáu gam) và 0,075 g (không phẩy không bảy lăm gam) chất tinh thể màu trắng đi giám định. Số còn lại 2,635 g (hai phẩy sáu ba lăm gam) được niêm phong theo đúng quy định.

- 01 (một) phong bì thư do Công an huyện Quỳ Hợp phát hành, mặt trước phong bì ghi : Que test ma túy của Trương Văn H ngày 30/12/2022. Kết quả : Dương tính với ma túy Methamphetamine (ma túy đá).

- 01 (một) phong bì thư do Công an huyện Quỳ Hợp phát hành, mặt trước phong bì ghi : Que test thử ma túy của Trương Thị Phương L

- 01 (một) phong bì thư do Công an huyện Quỳ Hợp phát hành, mặt trước phong bì ghi : Que test của Nguyễn Hồng P.

- 01 (một) phong bì thư do Công an huyện Quỳ Hợp phát hành, mặt trước phong bì ghi : Que test của Trương Văn T, sn 2005, xóm Minh Quang, xã Minh Hợp, huyện Quỳ Hợp.

- 01 (một) cán chổi lau nhà bằng inox, hai đầu cán chổi có nắp nhựa, cán chổi hình trụ tròn, có chiều dài khoảng 90 cm. Được niêm phong lại bằng cách bỏ vào một túi nilon màu trắng quấn lại dán băng dính.

- 01 (một) túi niêm phong ký hiệu PS3, số 058031, do Viện kỹ thuật hóa – sinh và tài liệu nghiệp vụ - TCIV – Bộ Công an sản xuất, được Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Nghệ An niêm phong lại.

- 01 (một) chai nhựa hiệu trà xanh không độ, bên trong không chứa gì, không có nắp chai ; 01 bật lửa màu đỏ, đã qua sử dụng, bật lửa còn ga và sử dụng được. Được niêm phong trong một túi ni lon, có dán giấy niêm phong.

Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALXY A03s màu xanh đen, số Imell :358452987137933, số Imel2 :359488427137934, gắn sim số 0969.041.050, số seri sim : 8984.04800.03800.28563, có cài đặt chức năng zalo, messenger, màn hình bị vỡ, điện thoại đã qua sử dụng.

- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105, màu đen, loại bàn phím, số Imell : 356957094307841, số Imel2 : 356957099307846, gắn sim số 0984.777.054, số seri sim :8984.04800.03011.33970, điện thoại đã qua sử dụng.

Đề nghị trả lại cho các chủ sở hữu.

Theo lời khai của bị cáo Trương Văn H thì về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do H mua với một người đàn ông không quen biết về để sử dụng. Do không xác định danh tính, lai lịch của người này nên không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự.

Đối với Trương Thị Phương L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng với H. Công an huyện Quỳ Hợp đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với Linh nên đề nghị Hội đồng xét xử không phải xem xét thêm.

Bị cáo Trương Văn H nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết việc làm của mình là sai trái mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Hợp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa bị cáo Trương Văn H hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng. Trương Văn H khai nhận, là người nghiện chất ma túy nên sáng ngày 29/12/2022, H đi đến khu vực quảng trường H thuộc thành phố V, tỉnh Nghệ An mua được của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy đá với gía 1.500.000đồng. Sau khi mua được ma túy, H bắt xe khách về nhà. Khoảng 16 giờ cùng ngày, H đến thuê phòng số 402 nhà nghỉ Q thuộc xóm Đ, xã N, huyện Q để nghỉ. Vào khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 29/12/2022, tại phòng số 402 nhà nghỉ Q, Trương Văn H đã cho Trương Thị Phương L ma túy đá và đồng ý cho L sử dụng ma túy tại phòng số 402 nhà nghỉ Q (do H thuê). Lời khai nhận của bị cáo Trương Văn H tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, vật chứng được thu giữ, gồm: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 30/12/2022; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 30/12/2022; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu hồi 10 giờ 10 phút ngày 30/12/2022; Hai biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 30/12/2022; Kết luận giám định số 76/KL – KTHS (Đ2- MT) ngày 06/01/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: 2 (hai) mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M1 và M2) thu giữ của Trương Văn H gửi tới giám định đều là ma túy (Methamphetamine). Số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Trương Văn H có tổng khối lượng là 3,310 gam (Ba phẩy ba trăm mười gam).

Kết luận giám định số 121/KL – KTHS (Đ2 – MT) ngày 20 tháng 01 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Trong ống hút làm bằng nhựa màu trắng nối liền nhau có chiều dài 40 cm và trong ống thủy tinh gấp khúc, một đầu bị vỡ, một đầu gắn với ông nhựa màu trắng có chiều dài 20 cm thu giữ của Trương Văn H gửi tới giám định đều có bám dính chất ma túy (Methamphetamine).

Bị cáo Trương Văn H cất dấu khối lượng khối lượng là 3,310 gam ma túy (Methamphetamine) để nhằm mục đích sử dụng. Do đó, có đủ căn cứ xác định hành vi trên của Trương Văn H đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bị cáo Trương Văn H đã rủ Trương Thị Phương L sử dụng ma túy, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy và cung cấp ma túy (Methamphetamine) cho Trương Thị Phương L sử dụng ma túy bằng cách hút tại phòng 402 Nhà nghỉ Q thuộc xóm Đ, xã N, huyện Q, do Trương Văn H thuê để nghỉ. Do đó, đủ căn cứ xác định hành vi trên của Trương Văn H đã cấu thành tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo Trương Văn H đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý nhà nước về chất ma tuý. Vụ án xảy ra còn gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội. Nên cần lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho xã hội và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần phải xem xét giảm nhẹ một phần vì: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trương Văn H.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng ....” và tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng ....”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo đang bị tạm giam, trước khi phạm tội bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: Số ma túy thu giữ của Trương Văn H 3,310 g ma túy đã lấy 0,6 g và 0,075 g đi giám định. Số còn lại 2,635 g ma túy đá (Methamphetamine) là vật Nhà nước cấm lưu hành.

- 04 (bốn) phong bì thư do Công an huyện Quỳ Hợp phát hành, mặt trước phong bì ghi : Que test ma túy của Trương Văn H, Trương Thị Phương L, Nguyễn Hồng P, Trương Văn T ; 01 (một) cán chổi lau nhà bằng inox, hai đầu cán chổi có nắp nhựa, cán chổi hình trụ tròn, có chiều dài khoảng 90 cm. Được niêm phong lại bằng cách bỏ vào một túi nilon màu trắng quấn lại dán băng dính ; 01 (một) túi niêm phong ký hiệu PS3, số 058031, do Viện kỹ thuật hóa – sinh và tài liệu nghiệp vụ - TCIV – Bộ Công an sản xuất, được Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Nghệ An niêm phong lại ; 01 (một) chai nhựa hiệu trà xanh không độ, bên trong không chứa gì, không có nắp chai ; 01 bật lửa màu đỏ, đã qua sử dụng, bật lửa còn ga và sử dụng được. Được niêm phong trong một túi ni lon, có dán giấy niêm phong nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALXY A03s màu xanh đen, số Imell :358452987137933, số Imel2 :359488427137934, gắn sim số 0969.041.050, số seri sim : 8984.04800.03800.28563, có cài đặt chức năng zalo, messenger, màn hình bị vỡ, điện thoại đã qua sử dụng của Trương Thị Phương L ; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105, màu đen, loại bàn phím, số Imell : 356957094307841, số Imel2 : 356957099307846, gắn sim số 0984.777.054, số seri sim :8984.04800.03011.33970, điện thoại đã qua sử dụng của Trương Văn H nên cần trả lại cho chủ sở hữu;

Về án phí: Bị cáo Trương Văn H chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trương Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1, Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trương Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt 02 tội buộc bị cáo Trương Văn H chấp hành hình phạt chung của hai tội là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 30/12/2022.

Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 2,635 g ma túy đá (Methamphetamine) thu giữ của Trương Văn H ; 04 (bốn) phong bì thư do Công an huyện Quỳ Hợp phát hành, mặt trước phong bì ghi : Que test ma túy của Trương Văn H, Trương Thị Phương L, Nguyễn Hồng P, Trương Văn T ; 01 (một) cán chổi lau nhà bằng inox, hai đầu cán chổi có nắp nhựa, cán chổi hình trụ tròn, có chiều dài khoảng 90 cm. Được niêm phong lại bằng cách bỏ vào một túi nilon màu trắng quấn lại dán băng dính ; 01 (một) túi niêm phong ký hiệu PS3, số 058031, do Viện kỹ thuật hóa – sinh và tài liệu nghiệp vụ - TCIV – Bộ Công an sản xuất, được Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Nghệ An niêm phong lại ; 01 (một) chai nhựa hiệu trà xanh không độ, bên trong không chứa gì, không có nắp chai ; 01 bật lửa màu đỏ, đã qua sử dụng, bật lửa còn ga và sử dụng được. Được niêm phong trong một túi ni lon, có dán giấy niêm phong;

Trả lại cho bị cáo Trương Văn H 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105, màu đen, loại bàn phím, số Imell : 356957094307841, số Imel2 : 356957099307846,

gắn

sim

số

0984.777.054,

số

seri sim :8984.04800.03011.33970, điện thoại đã qua sử dụng.

Trả lại cho Trương Thị Phương L 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALXY A03s màu xanh đen, số Imell :358452987137933, số Imel2 :359488427137934, gắn sim số 0969.041.050, số seri sim : 8984.04800.03800.28563, có cài đặt chức năng zalo, messenger, màn hình bị vỡ, điện thoại đã qua sử dụng.

Đặc điểm chi tiết vật chứng được phản ánh tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 10/4/2023, giữa Công an huyện Quỳ Hợp và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Quỳ Hợp.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.

Bị cáo Trương Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 11/5/2023. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về phần trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ